|
Trong vòng chưa đầy 3 tháng cuối năm 1964, đầu năm 1965 bến Vũng Rô Phú Yên đã tổ chức đón nhận 4 chiếc tàu không số từ miền Bắc chở hơn 200 tấn vũ khí vào để chi viện cho chiến trường Phú Yên-Khánh Hòa-Đắc Lắc đánh giặc. Đó là một thời hào hùng rực lửa cách mạng trong những trái tim tuổi trẻ vì quê hương, vì miền Nam giải phóng. Kết quả đó là sự chỉ đạo chặt chẽ của Quân ủy Trung ương (TW), Bộ tư lệnh Quân Khu5 (QK5), sự phối hợp nhịp nhàng chặt chẽ giữa các ngành các cấp giữa tàu và bến, sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt cũng như những hy sinh thầm lặng của quân và dân Phú Yên mà tiêu biểu là cán bộ chiến sĩ, quân dân tham gia thực hiện sự kiện tàu không số Vũng Rô.
Ngay từ năm 1961 Bộ chính trị, Quân ủy TW quyết định mở tuyến đường vận tải trên biển để chi viện trực tiếp cho miền Nam. Cũng từ đó bến tàu không số Vũng Rô Phú Yên hình thành. Nhiều cán bộ chiến sĩ lực lượng vũ trang (LLVT), dân quân du kích và nhân dân cách mạng đã tham gia đón tiếp, bảo vệ bốc dỡ hàng và anh dũng kiên cường chiến đấu, bảo vệ tàu, bảo vệ hàng khi địch phát hiện tập trung đánh phá. Chiến công hiển hách của bến tàu không số Vũng Rô Phú Yên đã được Bộ Văn hóa thông tin xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia. Bến Vũng Rô là một trong bốn bến ở miền Nam được Quân chủng Hải quân quyết định xây bia di tích đường Hồ Chí Minh trên biển từ năm 2001.
Bến Vũng Rô nằm ở Tuy Hòa 1 quê hương giàu truyền thống cách mạng trong chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ. Những trận đánh nổi tiếng như mặt trận đèo Cả- Hòa Xuân 1952, chiến dịch Át-lăng 1954, đấu tranh chống luật 10/1959, đồng khởi Hòa Thịnh-Tuy Hòa 12/1960, đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang diệt tề, phá ấp chiến lược mở rộng nhiều vùng giải phóng của những năm đầu đánh Mỹ 1960-1964. Hơn nữa địa hình Vũng Rô- Phú Yên có thế lợi núi nhô xa ra biển. Ở đây có mũi Nạy- điểm cực Đông của Tổ quốc, đón nhận ánh sáng mặt trời sớm nhất nước ta, lại có vịnh nước sâu, núi cao che chắn kín, có thế bí mật tàu cập bến và thế bảo vệ, thế đánh, thế giữ vững. Ban chỉ huy bến nhiều ngày trình sát chuẩn bị trên nhiều vùng như bãi Bàng, bãi Lau, bãi Chính, bãi Ngà, bãi Chùa… Qua phân tích chọn lọc kết quả khảo sát, Ban chỉ huy bến quyết định: Chọn bến bãi Chính cho tàu cập bến, điểm đậu của tàu là về núi Tây bãi Chính, địa hình kín đáo, địa bàn rộng, tiếp nhận cơ động vận chuyển hàng bề sau tiện lợi.
Về lực lượng: Bảo vệ bến và hành lang an toàn vận chuyển là Trung đội bộ binh K64, Trung đội bộ binh c377, Trung đội tập trung xã Hòa Hiệp, Tiểu đội dân quân Hòa Hiệp, Hòa Xuân, trong đó có một phần lực lượng cùng cán bộ thôn Phú Lạc, thôn Đa Ngư- xã Hòa Hiệp chuẩn bị cây gỗ, thiết bị cầu cản và ghe để chở hàng, đặc biệt công tác tổ chức ám tín hiệu liên lạc để dẫn đường tàu vào bến. Lực lượng chuyển hàng đưa vào gộp, vào kho là cán bộ đảng viên, đoàn viên được chọn lựa từ thôn Phú Lạc, thôn Đa Ngư, thôn Thọ Lâm, thôn Lò Ba xã Hòa Hiệp, xóm Mới thôn Phước Giang xã Hòa Xuân, số lượng hơn 200 người. Công tác hậu cần bảo đảm ăn uống theo từng bộ phận, chuyến trưng dụng công tác này trong vòng 1 đến 2 tuần. Mọi việc chuẩn bị trên bến dưới ghe được chu đáo, đến 23 giờ 30 phút ngày 28/11/1964 tàu không số do Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh, Chính trị viên Trần Hoàng Chiếu cùng 19 thuyền viên chở 63 tấn vũ khí từ miền Bắc vào cập bến an toàn. Cán bộ chiến sĩ thủy thủ tàu cùng những người ở bến tay bắt mặt mừng ôm nhau mà khóc, rồi trực tiếp vác từng khẩu súng, thùng đạn lên bờ… Rồi đây trang bị cho các LLVT tỉnh, quân khu đủ sức đánh những trận đánh lớn, thắng lợi lớn hơn, sớm giải phóng quê hương giải phóng miền Nam. Trước sự phát triển lớn mạnh của cạch mạng, sự yêu cầu của chiến trường Khu 5, Khu 6 và điều kiện bảo đảm của bến Vũng Rô thuận lợi. Chuyến tàu không số thứ 2 tiếp tục cập bến Vũng Rô vào 23 giờ ngày 25/12/1964. Kinh nghiệm chỉ đạo điều hành bến, cũng như thực hiện bốc dỡ vận chuyển hàng của chuyến 1 đã có nên tổ chức đón tiếp bốc dỡ hàng chặt chẽ, nhanh gọn và trong đêm đưa tàu vào nơi trú ẩn, ngụy trang an toàn. Những ngày này chuyến hàng số 1 đã được chuyển lên đường dây đi tỉnh Đắc Lắc, tỉnh Khánh Hòa.
Để bảo đảm công tác bảo vệ bến và thực hiện nhiệm vụ trạm, kho được mở rộng, tháng 12/1964 Ban chỉ huy bến (được sự đồng ý của Quân khu 5) tổ chức tuyển quân trên 120 thanh niên từ các thôn Phú Lạc, thôn Đa Ngư, thôn Thọ Lâm, thôn Lò Ba xã Hòa Hiệp lập thành đại đội lấy mật danh K60 do đồng chí Hồ Thanh Bình làm Đại đội trưởng, đồng chí Phạm Ân làm Chính trị viên…
Sau 4 năm đọ sức với quân và dân ta, chiến lược "chiến tranh đặc biệt" có nguy cơ bị phá sản. Sau chiến dịch Đông Xuân 1964-1965 và đặc biệt sau 2 trận Bình Giã và Dương Liễu, đội quân ngụy "xương sống của chiến tranh đặc biệt" đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mac Na-ma-ra đã phải thú nhận "Mỹ đã thất bại quân sự ở Việt Nam" Tướng Oét-mô-len tư lệnh Bộ chỉ huy quân Mỹ ở Sài Gòn thì cho rằng "Nếu tình hình phát triển theo chiều hướng này, chính phủ Việt Nam Cộng hòa (tức ngụy quyền) không thể tồn tại được trong vòng 6 tháng" Mỹ cảm thấy đang "chơi ván bài thua" ở Việt Nam, vì Việt Cộng chiếm được nhiều quá đến nổi một lần nữa chúng ta (tức Mỹ) lại đứng trước nguy cơ nước này bị cắt làm đôi, bởi một mũi dùi của Việt Cộng được thọc ra đến tận
biển.1 Để cứu vãn thất bại Giôn-xơn và tập đoàn cầm quyền Mỹ quyết định đưa một bộ phận lực lượng quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam, dùng không quân đánh phá mạnh và liên tục đối với miền Bắc, đưa cuộc "chiến tranh đặc biệt" lên mức cao nhất; chuẩn bị khi tình hình nguy ngập hơn sẽ đưa quân Mỹ vào tham chiến với quy mô lớn, thực hiện chiến lược "chiến tranh cục bộ".
Ngày 07/02/1965 đế quốc Mỹ mở chiến dịch "mũi lao lửa I" (Flem Ming Dar I) ném bom thị trấn Hồ Xá- Vĩnh Linh, thị xã Đồng Hới Quảng Bình. Ngày 13/02/1965 Mỹ mở chiến dịch "mũi lao lửa II" (Flem Ming Dar II) leo thang ném bom miền Bắc đến vĩ tuyến 19. Đây là những biểu hiện thất bại nặng nề của quân Mỹ ngụy tại chiến trường miền Nam. Theo nhu cầu phát triển của chiến trường nhiều phần có lợi cho sự tiến công lớn của quân và dân miền Nam cũng như ở Phú Yên. Sự chi viện khẩn trương của hậu phương miền Bắc lúc này là quyết định thắng to, thắng nhanh của chiến trường.
Về đầu trang
Lúc 23 giờ 50 phút rạng ngày 01 tháng giêng 1965 chuyến tàu không số thứ 3 cập bến Vũng Rô an toàn. Mừng vui khôn xiết đúng vào đêm giao thừa mừng năm mới Ất Tỵ. Rồi đây hoa xuân sẽ nở bằng những chiến công thắng lợi. Công tác đón tàu, bốc dỡ chuyển tải hàng thuận lợi, hàng tiếp tục chuyển dần vào các kho cả mang vác bộ và dùng cả ghe nhỏ độ 1-2 tấn chuyển lên kho bãi Xép, bãi Tiên- Hòa Xuân… tiếp đó là những đoàn dân công vài ba chục người vác, mang, chuyển theo đường giao liên vượt đường 1A qua đoạn Hòa Xuân để đưa hàng về Tây Nguyên một cách bí mật an toàn, hiệu quả, lừa qua dòm ngó và tuần tra của địch.
Tình hình phát triển khẩn trương và biến động nhanh, lệnh của cấp trên (Bộ, Cậu Vũ) bến Vũng Rô (NG50) chuẩn bị gấp nhận chuyến hàng thứ 4. Tuy nhiệm vụ đột xuất, thời gian rất gấp lại vừa giải quyết hàng chuyến thứ 3 còn tồn đọng ở bến. Ban chỉ huy(BCH) bến ra quyết tâm và vận động cán bộ, chiến sĩ ở bến với tinh thần tiến công địch, hàng càng nhiều càng tốt cho chiến trường thắng lớn nên ai nấy đều vui mừng nổ lực làm công tác chuẩn bị sẵn sàng nhận hàng. Mặt khác các địa phương quanh vùng động viên lấy thêm dân công quân số lên tới hàng nghìn người trên các cung trạm vận chuyển; nên việc tuyển chọn không khỏi sự sơ xuất… Đêm 15 tháng 02 chuyến tàu thứ 4 cập bến, lúc đó là 23 giờ, bến khẩn trương đưa lực lượng bốc dỡ hàng, lực lượng này gồm du kích Hòa Hiệp, Hòa Xuân, K60, K64 và một lực lượng Tiểu đoàn 83 hổ trợ cùng dân công các thôn giải phóng quanh vùng. 3 giờ sáng ngày 16 tháng 02 hàng đã được bốc dỡ hết, cho tàu quay ra nhưng do tời neo hỏng, 5 giờ 30 phút mới chữa tời neo xong, thủy thủ và cán bộ chiến sĩ ở bến khẩn trương ngụy trang tàu bằng nhiều cành cây to mà bến đã chuẩn bị sẵn và cho tàu ép sát vào vách núi, tàu chẳng khác một mõm núi nhô ra biển. Trên đỉnh đèo cả là đồn Pơ- tí, địch đóng hàng đại đội nơi đây bảo vệ đầu mối giao thông quan trọng QL 1A.. Phía biển có tàu địch hay tuần tiểu.
10 giờ sáng ngày 17, chiếc UH1B- một trong những chiếc máy bay tải thương- bay dọc QL1A từ Quy Nhơn về Nha Trang bay qua vùng đèo Cả- Vũng Rô. Viên phi công tình cờ nhìn thấy "một mõm núi lạ nhô ra trên vách núi phía Tây Vũng Rô"2 mà những ngày trước y không hề thấy. Viên phi công liền báo cáo về Bộ chỉ huy Quân đoàn 2 ngụy đóng ở Nha Trang. 11 giờ một máy bay trinh sát được điều đến khu vực Vũng Rô, nó lượn nhiều vòng chụp ảnh, cơ quan tham mưu của Mỹ dễ dàng nhận ra rằng những bức ảnh do máy bay trinh sát chụp được khác nhau với những bức ảnh chụp trước kia. Từ Nha Trang máy bay trinh sát tiếp tục tăng cường bay về phía Vũng Rô. Đến 13 giờ máy bay trinh sát ném mù chỉ điểm, lát sau 2 chiếc AD6 lao tới ném xuống loạt bom xăng, ngụy trang tàu bốc cháy, tàu hoàn toàn bị lộ. Từ đó đến tối nhiều tốp máy bay liên tục tới ném bom khu vực Vũng Rô. Thuyền trưởng Lê Văn Thêm bị một mãnh bom phạt mất một bên mông.
Ban chỉ huy bến quyết định nổ phá xóa dấu vết tàu, 16 giờ đồng chí Nguyễn Long và một thủy thủ nữa được lệnh ra tàu sử dụng 500 kg TNT bố trí sẵn trong khoan máy để nổ tung xóa bỏ dấu vết không cho địch lấy tàu. Nhưng do bom địch đánh nên chiếc tàu nghiêng hẳn về một bên; do vậy tuy cố gắng hết mức 02 đồng chí không sao vào được khoang máy đành phải bơi vào bờ. Máy bay địch thả pháo sáng suốt đêm. Ngày 17 tháng 02 máy bay địch tiếp tục ném bom, buổi chiều địch cho chiếc tàu LSM 405 được hai chiếc PC04 và DC E2 yểm trợ từ biển tiến vào; Đồng thời trực thăng đỗ 2 tiểu đoàn bộ binh xuống chiếm các điểm cao. Ý định của địch là bắt sống cả người và tàu của ta. Lực lượng 2 bên hết sức chênh lệch, ta chỉ có Trung đội du kích, Tiểu đội công binh Hòa Hiệp, các tiểu đội bộ đội địa phương, Trung đội K64, K60 và 18 thủy thủ (tất cả khoảng đại đội). Nhiều lực lượng địch từ núi cao đánh xuống song đều bị ta đánh bật lùi trở lại. Tối ngày 17 tháng 02 một tiểu đội công binh cùng thủy thủ tàu và cán bộ chiến sĩ K60 chuyển bộc phá trên bờ đưa xuống tàu nổ phá, nhưng bộc phá trong buồng máy kích không nổ tàu vỡ đôi chìm xuống nước… Ngày 18-19/2 địch đổ bộ lên bờ, anh em du kích cùng bộ đội và thủy thủ phân nhau từng tổ tiểu đội chặn mọi lối ra vào bến đánh diệt nhiều tên địch không cho chúng tiến vào gần. Sáng ngày 24/2 địch đổ thêm quân triển khai từ đường 1 và các điểm cao ở các hướng với sự chi viện hỏa lực tàu biển tấn công siết chặt vòng vây. Cán bộ chiến sĩ ta kiên cường chặn đánh, có 03 đồng chí bộ đội hy sinh và đến 10 đồng chí bị thương. Do lực lượng của ta so với địch không cân sức nên đêm 24/2 BCH bến quyết định cho anh em phá vòng vây lui về phía sau; trước khi đi tổ chức 1 lực lượng đặt mìn phá một số hàng mới đưa vào bờ chưa chuyển kịp… Những ngày sau đó địch mở rộng bàn đạp tấn công trên cả hướng thôn Phú Lạc Hòa Hiệp, máy bay đánh phá các khu gộp đá phía đông chân núi Bia, nơi có trận địa và kho tàng của ta bố trí…
Tàu không số bị lộ ở bến Vũng Rô, Đại tướng Võ Nguyên Giáp-Tổng tư lệnh-Bí thư Đảng ủy quân sự TW chỉ thị ngừng ngay việc vận chuyển bằng đường biển vào miền Nam. Rút kinh nghiệm sâu sát việc này từ cơ quan cấp trên đến đơn vị cơ sở để tiếp tục làm tốt hơn. Thường vụ Đảng ủy Quân chủng Hải quân đã họp khẩn cấp để kiểm điểm vụ Vũng Rô; Thường vụ Đảng ủy đánh giá đây là một tổn thất nghiêm trọng có tính chiến lược.
Nguyên nhân xảy ra vụ tàu lộ ở bến Vũng Rô được đánh giá như
sau3:
- Nắm tình hình địch không vững, vũ khí đưa vào Khu 5 và Nam Bộ đặc biệt súng B40, B41 và súng lớn… đã khiến kẻ địch nghi ngờ. Mặt khác vũ khí đưa vào bến Vũng Rô 4 chuyến trong một thời gian ngắn khó tránh không lộ ra ngoài;
- Khi tình hình tuần tra của địch thay đổi, không nắm vững để xử lý kịp thời. Việc cho tàu thứ 4 vào bến Vũng Rô là đơn giản, thiếu cân nhắc khi mà vũ khí ở các chuyến đi trước chưa cất giấu kịp (tàu thứ 4 có nhiệm vụ vào bến Lô Riêu -Bình Định);
- Sau nhiều lần chở vũ khí vào Nam Bộ thắng lợi, công tác chính trị làm chưa tốt, nẩy sinh tư tưởng chủ quan;
- Việc lấy hàng ở bến Vũng Rô, bến tổ chức thiếu thận trọng, lẽ ra lực lượng bốc dỡ hàng ở bến chỉ có cán bộ đảng viên và bộ đội thì bến đã huy động cả dân quanh vùng, thiếu chọn lọc nên khó giữ bí mật;
- Tàu thứ 4 ngụy trang chưa tốt, chưa khéo léo.
Tuy nhiên sự kiện đáng tiếc ở bến Vũng Rô chỉ tăng thêm ý thức thận trọng và cảnh giác chứ không hề làm mất lòng tin của người chiến sĩ trong nhiệm vụ vận tải trên biển và người phục vụ ở bến. Nó làm tăng thêm quyết tâm trong tình hình mới với lòng tự trọng cao. Tàu không số bị lộ ở bến Vũng Rô là sự kiện lớn trong lịch sử của con đường vận chuyển chi viện cho miền Nam trên biển Đông. Nó chấm dứt giai đoạn bí mật bất ngờ, chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn địch đã phát hiện ra tuyến đường vận chuyển và bến tàu cập bến của ta. Tuy nó có tổn thất nhưng nó không dập tắt được ý chí tiếp tục chi viện cho chiến trường và quyết đánh thắng hoàn toàn đế quốc Mỹ giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc của cán bộ chiến sĩ tàu không số cũng như cán bộ chiến sĩ dân công ở bến tàu không số Vũng Rô.
BCH bến tàu không số Vũng Rô dưới sự chỉ đạo của đồng chí Sáu Suyền-Bí thư Tỉnh ủy tiến hành củng cố, tiếp tục xây dựng, duy trì bến. Công tác bảo vệ an ninh bến được thực hiện của bBB/c377-bBB/K64 và a dân quân xã Hòa Hiệp, Hòa Xuân, tiếp tục vận chuyển số vũ khí còn lại vào các gộp đá bãi Tiên, bãi Xép- Hòa Tâm về cho các đơn vị chiến đấu. Củng cố chuẩn bị lại bến, mở thêm các đường và kho hàng, gộp đá mới cũng như cung đường vận chuyển để chuẩn bị cho nhận các chuyến tàu sau này.
Lực lượng chiến đấu K60 sau khi tác chiến hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ cum kho Hòa Xuân được lệnh cơ động về đứng chân ở địa bàn xã Sơn Thành-Tuy Hòa; tổ chức học tập, huấn luyện để nâng cao trình độ kỷ chiến thuật và xây dựng quyết tâm sẵn sàng cơ động theo các nhiệm vụ ở chiến trường.
Bến tổ chức một lực lượng vào bến hòn Hèo-Khánh Hòa cùng lực lượng có sẵn ở đó để chuẩn bị bến. Đồng thời một lực lượng đi chuẩn bị bến mới ở Xuân Thịnh-Sông Cầu. Mọi việc trên các hướng các bộ phận chuẩn bị một cách khẩn trương và bảo đảm bí mật cao. Công tác hậu cần bến cũng xuất tiến chuẩn bị vận động quyên góp thu mua lương thực thực phẩm hướng xã Hòa Hiệp, xã Hòa Xuân chuyển về dự trữ ở kho. Sửa chữa và trưng dụng 10 chiếc ghe loại 2-3 tấn để phục vụ trung chuyển bến; chú trọng chuẩn bị lại hệ thống kho mới từ gộp hang đá đến việc che cất cây lá để sẵn sàng đón nhận hàng. Rà soát chọn lọc lại số dân công cần sử dụng chặt chẽ có độ tin cậy cao trên một số thôn xóm được giải phóng ở xã Hòa Hiệp, xã Hòa Xuân, xã Hòa Thịnh… đồng thời vận động khéo, giáo dục tốt, giữ được bí mật cao.
Hòa chung khí thế đánh Mỹ của cả nước, nắm chắc tình hình địch chuẩn bị bến bãi chu đáo về mọi mặt, cảnh giác cao; cán bộ chiến sĩ bến tàu không số Vũng Rô lần nữa xây dựng quyết tâm cao để bước vào giai đoạn hoạt động mới./.
|