|
Sự kiện Tàu 143 bị lộ( tháng 2-1965)
Ngày 1/2/1965 (nhằm ngày mồng 8 tết Ất Tỵ) Đảng uỷ Bộ tư lệnh Hải quân ,
trực tiếp là Đoàn 125 triển khai giao nhiệm vụ Tàu 143 do thuyền trưởng Lê
Văn Thêm phụ trách chở 63 tấn hàng vào Bình Định. Tàu 143 là tàu sắt có ưu
điểm dằn tàu bằng nước (thay phải xuống một lượng đá).
Tàu xuất bến, song do tình hình hoạt động của địch trên biển nên không thể
đi tiếp, phải dừng lại đảo Hải Nam 10 ngày chờ thời cơ.
Mãi đến ngày 10/2/1965, Tàu mới rời bến Hải Nam. Sau 2 ngày lênh đênh, luồn
lách địch trên biển, do tình hình bến Bình Định khó khăn Sở chỉ huy quyết
định không cập bến theo dự kiến và điện cho HB 16 chuẩn bị tiếp nhận chuyển
hàng ngoài kế hoạch vào Vũng Rô.
Nhận lệnh khẩn cấp, thời gian cận kề, được sự động viên của Ban Chỉ huy bến
(mới hình thành sau chuyến 3), lực lượng K60 và dân công lại tiếp tục lên
đường. Ngày 14/2 lực lượng đã triển khai chuẩn bị.
Tàu 143 lần đầu cập bến Vũng Rô (khác với Tàu 41), luồng lạch, bến bãi chưa
thông thạo.
Tình hình bến bãi:
Bãi Chính mới nhận xong chuyến 3, vị trí cất giấu hàng hạn chế, để phân tán
hàng vào bến, Ban chỉ huy bến quyết định xuống hàng vào Bãi Bàng (điểm cận
kề Bãi Chính về phía nam).
Do tình hình đặc biệt quá trình hành trình của Tàu, Sở chỉ huy điện cho HB16
bằng mọi cách phải tập trung lực lượng bốc dở hàng trong đêm kịp cho Tàu rời
bến không dừng lại qua ngày như các chuyến Tàu 41.
Qua 1 đêm bốc dỡ cật lực đưa hàng vào bãi , đến 3giờ 30 ngày 16/2 hoàn
thành, như vậy Tàu 143 có đủ thòi gian nhổ neo rời bến. Song, một rủi ro
đáng tiếc, tời neo hỏng, phải hì hụt sửa chữa mãi đến 5g mới xong. Trời hửng
sáng , tàu không còn thời gian rời bến, phải dừng lại trong ngày.
Theo phương án đã được chuẩn bị, tàu trú tại Bãi Chùa và được nguỵ trang chu
đáo. K60 cử một bộ phận lực lượng cùng với thuyền viên bố trí bảo vệ tàu.
Một ngày lưu lại là một ngày bến và tàu vô cùng căng thẳng. Thông tin liên
lạc với Cậu Vũ từng giờ.
Về đầu trang
Diễn biến tàu bị lộ và công tác triển khai của bến:
Vào khoảng 15g30, 2 trực thăng loại UH 18 làm nhiệm vụ tải thương từ Bình
Định vào bay dọc theo biển qua Bãi Môn Mũi Điện, bất ngờ viên phi công phát
hiện -qua đối chiếu địa hình thực tế- tại Bãi Chùa có mõm nhô ra khác thường
liền về báo Sở chỉ huy Nha Trang (theo tài liệu của địch sau nầy).
16 giờ 15 cùng ngày 1 máy bay trinh sát loại L19 quầng nhiều lần ở khu vực
Vũng Rô, rà sát khu vực Bãi Chùa.
Bến nhận định có nhiều khả năng Tàu bị lộ. Dừng công tác vận chuyển, lực
lượng K60 khẩn trương triển khai nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu theo kế hoạch,
lực lượng dân công tiếp tục nguỵ trang hàng nơi cất giấu.
17giờ cùng ngày 2 chiếc AD6 -máy bay khu trục ném bom phóng pháo- theo dẫn
dắt của máy bay trinh sát bay vào Vũng Rô và phóng rốc- két xuống khu vực
Bãi Chùa, một quả rốc- két trúng khoang mũi, nguỵ trang không còn, lộ nguyên
hình Tàu 143 mũi bị chìm xuống biển.
Hai tàu Hải Quân của địch được điều đến giữa mũi Nạy và Hòn Nưa trực qua đêm
nhằm ngăn chặn ta. Theo dự kiến phương án của Tàu, thuyền trưởng quyết định
hủy tàu bằng khối bộc phá 500 kg đã cài sẵn nhưng do tàu bị chìm, khoang máy
vào nước nên không sử dạng khối bộc phá đã có.
Theo đề nghị của Tàu là dùng bộc phá đánh trên khoang máy. Tại Bến, bộc phá
có song lại không có kíp và dây. Bến quyết định cử 1 tổ về kho Hậu cứ lấy
kíp và dây.
K60 triển khai 1 tổ hoả lực sang bãi Lau để ngày hôm sau đánh địch.
Do đặc điểm địa hình cho nên muốn vào Vũng Rô chỉ có đổ quân vào đường biển.
Công tác bố phòng của ta và lực lượng Bến làm địch còn dè dặt. Việc điều
quân của địch không kịp thời.
Ngày 16/2, địch vẫn chưa điều quân kịp.
Tàu Hải Quân địch lượn vòng vào Vũng Rô, song bị hỏa lực của ta ngăn chặn.
Máy bay tiếp tục đánh phá dọc theo bãi gành.
Ta mãi đến chiều ngày 16/2 mới chuyển kíp nổ vào Bến. Đêm 16/2, Chỉ huy Bến
quyết định cử một bộ phận của K60 do đồng chí Cảnh phụ trách, dùng thuyền
chở một lượng thuốc nổ ra phá huỷ tàu. Đây là một quyết định táo bạo, việc
sử dụng một lượng thuốc nổ khá lớn- khoảng 600-700kg, gây nổ bằng nụ xoè và
dây cháy chậm trong khi lại chưa hề biết kỹ thuật. Do đó khối nổ không hết,
Tàu chìm không xoá triệt để được dấu vết.
Ngày 17/2, Ta nhận định địch sẽ huy động lực lượng lớn để càn vào bến bãi.
Tương quan lực lượng giữa ta và địch quá chênh lệch về trang bị và số lượng.
Thế của địch là chủ động tấn công, ta phòng ngự ngăn chặn, trang bị vũ khí
không có hoả lực bắn tầm xa nhưng được lợi thế là địa hình thuận lợi, có
nhiều khả năng cơ động ngăn chặn từng bước, hạn chế tốc độ tiến công nhằm
kéo dài thời gian.
Qua một ngày chiến đấu quyết liệt, đến chiều địch mới đặt chân vào bờ chiếm
bãi đổ bộ, chuẩn bị cho quân tiếp viện.
Khả năng bảo vệ Bến nhiều khó khăn, với ta lương thực cũng cạn kiệt. Theo
lệnh của chỉ huy Sở, Phân khu Nam đưa K.64 vào thay nhiệm vụ. K60 tranh thủ
huỷ hàng tại bến trong đêm 17/2 và chuyển ra hậu cứ làm nhiệm vụ sẵn sàng
chiến đấu bảo vệ kho hậu cứ. Do hàng cất giấu phân tán, nên chỉ huỷ được một
số, sau cùng địch thu một số.
Từ ngày 18 đến 24/2/1965, địch mở đợt càn sâu vào bến bãi. Sở dĩ mãi đến
ngày 18/2 địch mới chính thức triển khai càn sâu vào Bến vì địch còn e ngại,
chưa nắm bắt được thực lực ta và kế hoạch bố trí bến bãi. Địch phải huy động
Trung đoàn 47 và một bộ phận của Sư 22 tăng cường. K64 lợi dụng địa hình có
lợi quầng bám đánh địch.
Trong ngày 18/2, K60 về đến hậu cứ Miền Đông, công việc đầu tiên là kiểm tra
điều chỉnh các điểm cất giấu hàng- tập trung nhiều nhất là gộp “Hang Vàng”
gần Bùng Binh Bãi Xép.
Sau đợt càn vào Vũng Rô, địch tiếp đổ quân vào bãi Xép đánh vào hậu cứ Miền
Đông, K60 cùng lực lượng địa phương quyết tâm chiến đấu ngăn chặn địch.
Địch càng ngày càng lấn sâu vào hậu cứ, khả năng bảo vệ có hạn. Ban chỉ huy
Bến quyết định đốt huỷ kho vũ khí Hang Vàng, trong lúc địch tiến sâu vào
Bùng Binh. Kho bốc cháy bùng nổ, khối lượng đá nổ tung vào đội hình tiếp cận
của địch, gây địch nhiều thương vong tổn thất, buộc chúng phải kết thúc đợt
càn vào hậu cứ miền Đông.
Sau sự kiện Vũng Rô, con đường vận chuyển chiến lược trên biển đã trải qua
thử nghiệm và tiến hành những chuyến đi thắng lợi không còn an toàn bí mật.
Sự kiện Vũng Rô, đã làm cho địch hoang mang, không tưởng. Địch tăng cường
việc triển khai chiến lược tiến hành phong toả vùng biển miền Bắc sớm hơn,
chuẩn bị chuyển hướng chiến lược ở miền Nam, lực lượng Nam Triều Tiên ồ ạt
vào trực tiếp tham chiến mở đầu cho “ Chiến tranh cục bộ” vào năm 1966.
Với ta, sau sự kiện Vũng Rô tuy có nhiều tổn thất, đường vận chuyển trên
biển có gặp nhiều khó khăn, kẻ địch tăng cường phong toả song Đảng vẫn giữ
quyết tâm, tích cực sẵn sàng chi viện cho miền Nam, Bộ tư lệnh Hải Quân,
Đoàn 125 chuyển phương thức hoạt dộng thích hợp. Công tác bến bãi vẫn được
duy trì và triển khai thực hiện.
Năm 1965, K60 được phân chia thành 2 bộ phận:
1. Đại bộ phận chuyển ra Sông Cầu, tuyển quân bổ sung xây dựng đơn vị mới (
K60c);
2. Một bộ phận vẫn ở tại miền Đông Hoà Hiệp tiếp tục nghiên cứu bến bãi,
thực hiện theo phương thức mới.
Tỉnh dội Phú Yên tăng cường một đội công tác biển ở An Ninh (Tuy An).
Kết luận chung
Đường Hồ Chí Minh trên biển, con đường vận chuyển chiến lược trực tiếp chi
viện cho miền Nam, trải qua hơn 5 năm thử nghiệm và thắng lợi, là con đường
huyết mạch cùng đường Trường Sơn chi viện trực tiếp cho Miền Nam, tạo cho
cách mạng miền Nam không ngừng phát triển và thắng lợi dẫn đến cuộc Tổng
tiến công Đông- Xuân 1965 buộc đế quốc Mỹ phải chuyển hướng chiến lược trong
cuộc chiến tranh, tiền đề cho cuộc Tổng tiến công nổi dậy “Xuân 1975 Đại
Thắng”.
|