|
Sau khi kết thúc Hội nghị Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình
ở Đông Dương (năm 1954), cách mạng nước ta bước sang giai đoạn cách mạng
mới: miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam bị đế quốc Mỹ thống trị. Đế
quốc Mỹ là trở lực chính ngăn cản việc lập lại hòa bình ở Đông Dương, âm
mưu dùng Đông Dương làm bàn đạp mở rộng chiến tranh xâm lược, thực hiện
âm mưu chia cắt lâu dài, biến miền Nam Việt Nam thành căn cứ quân sự của
chúng.
Những năm cuối của thập kỷ năm
mươi của thế kỷ XX, trên thế giới nổi lên ba “điểm nóng” là Trung Đông, Cu
Ba và Việt Nam. Chiến lược quân sự toàn cầu trả đũa ồ ạt tượng trưng cho sức
mạnh của Mỹ cùng với những chính sách và biện pháp để thực hiện chiến lược
đó đã không ngăn chặn được sự lớn mạnh của các nước xã hội chủ nghĩa, nhất
là Liên Xô, Trung Quốc và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
Ở Đông Dương, cuộc đấu tranh
của nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược bằng hình thức chủ nghĩa thực dân
kiểu mới đang làm suy yếu một hướng chiến lược trọng yếu trong chiến lược
toàn cầu của Mỹ. Năm 1960, nhân dân miền Nam nước ta đồng loạt nổi dậy, đánh
sập bộ máy cai trị của địch ở nhiều vùng nông thôn thuộc các tỉnh đồng bắng
sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ và một số tỉnh Khu V, Tây Nguyên. Cuộc đồng
khởi thắng lợi làm tiêu tan hy vọng của Mỹ, làm lộ rõ bộ mặt tay sai bán
nước của tập đoàn Ngô Đình Diệm, tạo ra một bước ngoặt làm thay đổi cục diện
chiến lược ở miền Nam có lợi cho cách mạng. Trước tình hình đó, với bản chất
hiếu chiến của chủ nghĩa đế quốc, Mỹ tự cho mình có quyền áp đặt mọi ý muốn
đối với các dân tộc trên thế giới và tin tưởng rằng chiến lược “Phản ứng
linh hoạt” sẽ bảo đảm cho Mỹ ứng phó kịp thời và giành phần thắng trong các
cuộc “Chiến tranh hạn chế”, lại tránh được đối đầu trực tiếp với Liên Xô.
Nhà Trắng và Lầu Năm Góc quyết định không rút lui, nhất định giữ vững cam
kết với Ngô Đình Diệm, biến miền Nam Việt Nam - “nơi sức mạnh và uy tín của
Mỹ đã được đầu tư rất sâu” thành tuyến đầu của Mỹ chống Liên Xô, Trung Quốc
“bành trướng” xuống Đông Nam Á. Ỷ vào sức mạnh của một siêu cường và niềm
tin chiến thắng, Mỹ quyết định tiến hành “Chiến tranh đặc biệt” chống nhân
dân Việt Nam, duy trì chế độ Diệm, coi đó là thí nghiệm đầu tiên của cuộc
“Chiến tranh hạn chế”. Chỗ dựa chủ yếu của Mỹ trong cuộc chiến tranh đặc
biệt này là ngụy quân ngụy quyền, trong đó quân đội Sài Gòn là lực lượng
chiến lược nòng cốt, quân Mỹ giữ vai trò cố vấn, chỉ huy và hỗ trợ . Những
thắng lợi của Việt Nam góp phần làm thức tỉnh lương tri nhân loại, cổ vũ các
dân tộc thuộc địa, nửa thuộc địa vùng lên đấu tranh để tự giải phóng. Việt
Nam trở thành trọng điểm trong chính sách ngăn chặn của Mỹ - nơi diễn ra
cuộc đụng đầu lịch sử giữa hai hệ thống đế quốc chủ nghĩa và xã hội chủ
nghĩa.
Đầu năm 1961,
Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ nhóm họp đề ra chính sách, biện pháp và các
bước tiến hành “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam. Sau đó, Tổng thống Mỹ
Kennơđi chính thức phê chuẩn các quyết định của Hội đồng An ninh quốc gia
mang tên “Bị vong lục về hành động an ninh quốc gia số 52”. Mục tiêu và hành
động của Mỹ ở miền Nam Việt Nam được xác định trong Bị vong lục này là: “Để
ngăn chặn cộng sản thống trị Nam Việt Nam...; xúc tiến với nhịp độ ngày càng
nhanh một loạt những hoạt động hỗ trợ lẫn nhau có tính chất quân sự, chính
trị, kinh tế, tâm lý và không công khai”. Những hoạt động hỗ trợ đó bao gồm
các biện pháp: tăng cường và mở rộng quyền điều hành tác chiến, chỉ huy, yểm
trợ của phái đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ (MAAG), kể cả việc huấn luyện
thêm 20.000 người cho quân đội Sài Gòn và quyền chi viện, cố vấn cho lực
lượng dân vệ lúc đó vào khoảng 40.000 người; triển khai 400 ngàn quân thuộc
lực lượng đặc biệt Mỹ tới Nha Trang nhằm đẩy mạnh việc huấn luyện, trang bị,
kể cả việc huấn luyện và trang bị cho lực lượng dân vệ dự tính lên tới
68.000 người để đối phó với chiến tranh du kích; khẩn trương triển khai kế
hoạch bình định, lấy việc lập ấp chiến lược làm trọng tâm; tiến hành các
chương trình kinh tế để gây ảnh hưởng ngắn hạn và góp phần vào sự tồn tại
lâu dài về kinh tế Nam Việt Nam; phong tỏa vùng biển, bịt chặt biên giới
nhằm chống việc xâm nhập từ miền Bắc vào miền Nam; tiến hành các hoạt động
chiến tranh bí mật phá hoại miền Bắc Việt Nam; ra sức củng cố chính phủ Sài
Gòn với các nước khác, đặc biệt là với chính phủ Cămpuchia.
Để thực hiện các giai đoạn của
kế hoạch “bình định” ở miền Nam, tháng 7 năm 1961, Mỹ-ngụy gấp rút tăng
cường lực lượng vũ trang, tổ chức và kiện toàn bộ máy chỉ đạo “bình
định” từ trung ương xuống các tỉnh, liên tiếp mở các cuộc hành quân càn
quét đánh phá ác liệt các cơ sở cách mạng miền Nam, triển khai thí điểm
dồn dân, lập “ấp chiến lược” ở các địa phương thuộc Tây Ninh, Bình
Dương, Biên Hòa, Quảng Ngãi, sau đó áp dụng rộng rãi ở một số tỉnh thuộc
đồng bằng sông Cửu Long.
Hải quân nguỵ Sài Gòn được Mỹ
viện trợ và xây dựng đã nhanh chóng phát triển. Khi hải quân Pháp buộc phải
rút khỏi Việt Nam, lực lượng hải quân ngụy có khoảng 2000 người, hơn 100
tàu xuồng chiến đấu và đổ bộ, trong đó có 2 tàu POV (tàu hộ tống tuần tiễu),
2 tàu LSM (tàu đổ bộ cơ giới), 3 tàu MSO (tàu quét mìn ven biển), đứng đầu
là phụ tá hải quân cạnh tổng tham mưu trưởng quân lực Việt Nam cộng hoà.
Từ 1957 đến 1960, quân số phát triển với khoảng 3.500 người và chuyển hoá
thành quân chủng hải quân ngụy Sài Gòn gồm có các thành phần chính là các
lực lượng hải lực, giang lực, thuỷ quân lục chiến... từ đó hệ thống phòng
thủ quản lý vùng biển miền Nam triển khai tương đối hoàn chỉnh, tập trung
nhất là dọc ven biển, các cửa sông bến cảng lớn và trong sông ngòi vùng châu
thổ.
Đế quốc Mỹ đã viện trợ cho
chính quyền Ngô Đình Diệm các vũ khí trang bị hiện đại để giăng một mạng
lưới tình báo dọc ven biển bằng lực lượng hải thuyền. Đây là một lực lượng bán quân sự theo quy chế dân sự, quân lính tuyển chọn người địa
phương, kinh phí do quỹ riêng (gọi là mật phí) của phủ tổng thống đài thọ.
Số lượng thuyền của chúng năm 1960 có khoảng 80 chiếc, năm 1961 tăng lên
khoảng 650 chiếc, được tổ chức thành hai khu hải đội và bố trí dọc ven biển
miền Nam, trọng điểm là vùng giáp ranh vĩ tuyến 17. Lực lượng hải thuyền
hoạt động dưới hình thức bí mật giả dạng đánh cá theo sự chỉ đạo của chính
phủ Việt Nam cộng hoà và có quy chế riêng; mãi về sau này lực lượng hải
thuyền mới sáp nhập vào lực lượng hải quân ngụy.
Về đầu trang
Giữa năm 1961, 400 binh sĩ Mỹ
và 100 cố vấn quân sự Mỹ sang Việt Nam (riêng phân ban hải quân Mỹ thuộc
nhóm viện trợ quân sự Mỹ - MAAG lúc đầu chỉ có 7 tên, đến tháng 7 năm 1960
tăng lên 60 tên). Cuối năm 1961 các lực lượng không quân, bộ binh và hải
quân Mỹ bắt đầu đảm nhiệm vai trò có giới hạn. Hải quân Mỹ bắt đầu cho tàu
MSO (quét mìn biển) dùng ra đa tuần tiễu quan sát phát hiện phục vụ cho hải
quân nguỵ ngăn chặn kiểm soát dọc theo vùng biển giáp ranh ở vĩ tuyến 17,
bản thân tàu MSO tránh tiếp xúc với lực lượng của ta. Cuối tháng 2 năm 1962
tàu khu trục hộ tống của Mỹ bắt đầu tham gia tuần tiễu trên tuyến ven biển
Cà Mau, Phú Quốc, Vịnh Thái Lan. Cùng thời gian này, chính quyền Kennơđi còn
bí mật tiến hành chiến dịch thu thập tin tức tình báo, điều tra tình hình
giao thông ở miền Bắc và Đông Dương gây ra các vụ phá hoại... Các năm
1961-1963, chúng tiến hành 38 phi vụ biệt kích; hầu hết các vụ này đều bị ta
phát hiện đánh trả.
Trước tình hình kế hoạch bình
định và lập ấp chiến lược của Mỹ-nguỵ bị phá vỡ, chính quyền Ken-nơ-di
tuyên bố tăng thêm viện trợ và đưa lực lượng đặc biệt của Mỹ vào hòng cứu
nguỵ bằng một chương trình gọi là “Chương trình hành động đối với Nam Việt
Nam” với nhiều nội dung, trong đó có mấy điểm đáng lưu ý: “ưu tiên xây
dựng phương tiện kiểm soát bằng ra đa..., lúc đầu khả năng này cần phải xây
dựng bằng những phương tiện ra đa lưu động của Mỹ, chi viện cho lực lượng
ghe tàu của Việt Nam cộng hoà, coi đó là ph¬ương tiện ngăn chặn Việt cộng bí
mật thâm nhập tiếp tế vào miền Nam Việt Nam bằng đường thuỷ...”.
Ở miền Bắc nước ta, sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (5-1954), quân và
dân ở miền Bắc ra sức khôi phục và phát triển kinh tế và quốc phòng trong
khí thế thi đua hào hứng; thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng về
mọi mặt chính trị, kinh tế, quốc phòng, tạo ra tiềm năng to lớn quyết định
đối với mọi sự phát triển của cách mạng Việt Nam, bảo vệ miền Bắc - hậu
phương lớn của cả nước, là chỗ dựa vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng
miền Nam - tiền tuyến lớn của cả nước. Nhân dân miền Bắc ra sức phát huy
những thuận lợi cơ bản, khắc phục mọi khó khăn để khôi phục kinh tế quốc
dân; qua cải cách ruộng đất và cải cách dân chủ, đã đã xóa bỏ về cơ bản chế
độ người bóc lột người, xác lập được quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, đạt
được các chỉ tiêu cơ bản của kế hoạch 3 năm sản xuất nông nghiệp, công
nghiệp, văn hóa giáo dục và y tế; lực lượng quốc phòng được tăng cường; quân
đội tích cực tiến dần từng bước lên chính quy hiện đại, luôn luôn sẵn sàng
chiến đấu bảo vệ miền Bắc, chi viện miền Nam. Cục Phòng thủ bờ bể được
thành lập năm 1955. Đến năm 1959, Cục Hải quân được thành lập trên cơ sở Cục
Phòng thủ bờ bể. Lực lượng Hải quân từng bước phát triển, có cơ quan chỉ
huy, các căn cứ, cơ sở hậu cần - kỹ thuật, các lực lượng trên bờ và lực
lượng tàu thuyền hoạt động dưới nước.
Dưới ánh sáng Nghị quyết lần
thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa II họp ngày
13 tháng 1 năm 1959 và Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng năm
1960 đã nêu rõ hai nhiệm vụ của dân tộc là đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam.
Các cuộc đồng khởi nổ ra ở
những vùng rộng lớn từ miền Trung (Quảng Ngãi, Khánh Hoà, Phú Yên... đến
Phan Thiết, Vũng Tàu, Bến Tre, Bạc Liêu) cuối năm 1958 đến đầu năm 1960 đã
phát triển nhanh chóng đưa phong trào cách mạng miền Nam có bước tiến nhảy
vọt. Ngày 20 tháng 12 năm 1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam được
thành lập. Sự kiện này càng cổ vũ quân dân miền Nam nắm chắc mục tiêu của
cách mạng, vận dung linh hoạt mọi hình thức đánh địch, đưa cách mạng miền
Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công rộng khắp, liên tục. Vì vậy
yêu cầu cấp bách đối với cách mạng miền Nam lúc này là vật chất, vũ khí đạn
dược và khí tài trang bị chiến đấu cho các lực lượng vũ trang trên các
chiến trường. Bộ Chính trị và Thường trực Quân uỷ Trung ương đã sớm đặt
vấn đề tổ chức chỉ đạo xây dựng lực lượng vận tải quân sự chi viên cho
chiến trường. Để giải quyết vấn đề này, theo chỉ thị của Bộ Chính trị, tháng
5 năm 1959, Tổng Quân ủy quyết định thành lập một cơ quan nghiên cứu mở
đường vận chuyển trên bộ; tháng 7 năm 1959, tổ chức đường vận tải quân sự
trên biển. Đây là một trong những nhiệm vụ lớn đầu tiên có ý nghĩa chiến
lược đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam. Đồng chí thượng tá Võ Bẩm, Cục
phó Cục Nông trường Quân đội được giao nhiệm vụ phụ trách cơ quan nghiên cứu
này.
Ngày 19 tháng 5 năm 1959, Đoàn
vận tải quân sự trên bộ, phiên hiệu 559 được thành lập. Lực lượng nòng cốt
ban đầu của Đoàn gồm 2 tiểu đoàn : 301 và 603. Tiểu đoàn 301 có 500 cán bộ
chiến sĩ làm nhiệm vụ vận chuyển bằng đường biển chi viện vũ khí cho chiến
trường miền Nam.
Như vậy, cùng với tiểu đoàn 301
làm nhiệm vụ vận chuyển tiến bộ, một đơn vị vận tải đường biển được thành
lập phiên hiệu là Tiểu đoàn 603 thuộc Đoàn vận tải quân sự 559, có nhiệm vụ
nghiên cứu và thực hiện vận chuyển, chi viện vũ khí cho chiến trường miền
Nam bằng đường biển, bắt đầu xây dựng doanh trại, đóng thuyền, sắm lưới và
luyện tập đi biển. Đây là một nhiệm vụ mới mẻ, nhiều bỡ ngỡ lúng túng từ
việc mua sắm phương tiện tàu thuyền cho đến phương thức vận chuyển đi vào
vùng địch kiểm soát. Đoàn 559 đã giao nhiệm vụ cho một số cán bộ và chiến sĩ
tập kết, hầu hết đã tham gia kháng chiến chống Pháp ở chiến trường miền
Nam, nhiều người đã trải qua nghề đi biển bằng thuyền buồm. Sau khi nhận
nhiệm vụ, Tiểu đoàn 603 đã khẩn trương chuẩn bị, mua sắm và đóng được 4
chiếc thuyền gỗ đánh cá hai đáy theo kiểu dạng miền Nam, trọng tải cỡ 20
tấn. Để giữ bí mật, đơn vị được gọi là “Tập đoàn đánh cá Sông Gianh” trú
quân ở thôn Thanh Khê, xã Thạch Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
|