Sự kiện tàu không số Vũng Rô

Mục lục | Trang trước |Trang sau

HOÀN CẢNH VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ
CỦA VIỆC VẬN CHUYỂN VŨ KHÍ VÀO VŨNG RÔ - PHÚ YÊN
(cuối năm 1964–đầu năm 1965)

Trung tá NGUYỄN THỊ THU HIỀN

Phòng KHCN&MT Quân Khu 5

Tháng 11 năm 1961, Mỹ đề ra Kế hoạch Stalay-Taylor với mục đích lớn nhất là cơ bản bình định được miền Nam Việt Nam trong vòng 18 tháng (từ tháng 7 năm 1961 đến tháng 12 năm 1962). Theo kế hoạch này, địch sử dụng biện pháp quân sự là chủ yếu, dùng chiến thuật “trực thăng vận” và “thiết xa vận” càn quét đánh phá dai dẵng, tiến hành gom dân lập ấp chiến lược, tiêu diệt lực lượng cách mạng. Nhưng trên thực tế, cho đến khi Lyndon Baines Johnson lên làm Tổng thống Mỹ (năm 1963), Kế hoạch Stalay-Taylor vẫn không thực hiện được. Tháng 3 năm 1964, Mỹ lại đưa ra một kế hoạch quân sự mới: Kế hoạch McNamara nhằm bình định có trọng điểm miền Nam Việt Nam trong vòng 02 năm, với những thủ đoạn đánh phá ác liệt hơn nữa. Tại chiến trường miền Nam, địch vẫn sử dụng chiến thuật “trực thăng vận” và “thiết xa vận”. Về thực chất, đây là Kế hoạch Stalay-Taylor được sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới. Riêng tại Khu 5, địch dự định bình định trong vòng 01 năm nên chúng ra sức đôn quân bắt lính, đẩy mạnh gom dân lập ấp chiến lược, liên tục càn quét đánh phá lực lượng cách mạng đồng thời để xoa dịu tinh thần binh lính đang căng thẳng vì tình trạng khủng hoảng của chính quyền Sài Gòn, tăng cường pháo kích, dùng chất độc hóa học hủy diệt môi sinh...

Đối phó với kế hoạch của địch, ta tiếp tục xây dựng, hoàn chỉnh các địa bàn chiến lược và điều chỉnh lại chiến trường, tập trung vào vùng nam Trung Bộ và nam Tây Nguyên. Tháng 10 năm 1963, Trung ương tách hai tỉnh Khánh Hòa, Đắc Lắc thuộc Khu 6 về Khu 5 và thành lập Liên tỉnh, gồm: Phú Yên, Khánh Hòa và Đắc Lắc (Bắc Đắc Lắc và Nam Đắc Lắc). Đồng chí Hồng Châu–Khu ủy viên Khu 5–làm Bí thư Liên tỉnh ủy. Đây là cửa ngõ vào Tây Nguyên và đồng bằng ven biển miền Trung; trong kháng chiến chống Pháp, khu vực này là một trong những chiến trường ác liệt nhất của cả nước. Sau khi về thuộc Khu 5, lực lượng vũ trang của ta ở đây (nhất là ở Đắc Lắc) rất mỏng, lực lượng địch lại được tăng cường, đường 559 chi viện cho khu vực này bị chúng đánh phá liên miên, các căn cứ của ta bị uy hiếp mạnh, mùa màng bị chất độc hóa học tiêu hủy... Thực trạng đó tác động nghiêm trọng đến mọi mặt của cuộc kháng chiến. Liên tỉnh trở thành nơi khó khăn nhất của Khu 5 về vũ khí và các nhu yếu phẩm khác phục vụ chiến đấu.

Tháng 12 năm 1963, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 9 để nhận định tình hình, dự kiến khả năng và vạch phương hướng cho cách mạng miền Nam trong tình hình mới. Hội nghị xác định hai mục tiêu chủ yếu phải quyết tâm đạt cho bằng được:

1. Tiêu diệt từng bộ phận quân địch, tạo điều kiện làm tan rã hoàn toàn lực lượng quân sự–chỗ dựa chính của Mỹ và tay sai ở miền Nam;

2. Làm thất bại kế hoạch gom dân lập ấp chiến lược của địch, phá phần lớn các ấp chiến lược, giành nhân tài vật lực cho cách mạng, làm chủ rừng núi và phần lớn đồng bằng;

Quán triệt nghị quyết của Trung ương, thực hiện phối hợp chiến lược toàn Miền, tháng 5 năm 1964, Thường vụ Khu ủy–Bộ Tư lệnh Quân khu 5 chủ trương mở đợt hoạt động Thu Đông trên toàn chiến trường, với mục đích:

1. Tiêu diệt, tiêu hao thật nhiều sinh lực địch;

2. Đẩy mạnh phong trào phá ấp chiến lược, giành dân;

3. Bồi dưỡng, rèn luyện lực lượng ta;

Cơ sở cho đợt hoạt động này là việc phát triển các lực lượng vũ trang cách mạng, như nhiệm vụ Khu ủy đã xác định ngay từ đầu năm: “Ra sức xây dựng ba thứ quân, phát triển số lượng du kích, nâng cao chất lượng, bổ sung quân số, thường xuyên huấn luyện, nhất là xây dựng bộ đội địa phương vững vàng nhằm thay thế cho bộ đội chủ lực ”.

Để giành thắng lợi trên chiến trường, vũ khí tuy không phải là yếu tố quyết định nhưng cũng là yếu tố đặc biệt quan trọng. Nó có tác động trực tiếp đến hiệu quả tác chiến trong từng trận đánh, chiến dịch. Thực tế các tỉnh Khu 5 lúc bấy giờ, nhất là Liên tỉnh, rất thiếu vũ khí. Trước tình hình vận tải đường bộ đang gặp nhiều khó khăn, địch liên tục đánh phá, tung biệt kích thám báo thăm dò, phát hiện và tổ chức bắt cóc những cán bộ chiến sĩ gùi thồ nhỏ lẻ trên đường, phục kích các đoàn vận tải, tập kích đốt phá kho tàng, thì việc chi viện cho Khu 5 bằng đường biển là vấn đề được đặt ra.

Từ năm 1960, Bộ Chính trị quyết định mở rộng tuyến vận tải chi viện chiến lược, trước mắt phải mở đường biển chuyển vũ khí vào miền Nam. Đến ngày 23 tháng 10 năm 1961, với sự kiện Đoàn 759 thành lập, công cuộc này có một sự phát triển mới về tổ chức. Nhiệm vụ chủ yếu của Đoàn 759 (tháng 01 năm 1964, Đoàn 759 đổi phiên hiệu thành Đoàn 125) là chở vũ khí vào Nam Bộ. Giữa cuối năm 1964, Bộ Quốc phòng chỉ thị cho Bộ Tổng Tham mưu phối hợp với Bộ Tư lệnh Hải quân nghiên cứu mở bến, thực hiện chi viện vũ khí cho Khu 5.

Đường biển vận chuyển vũ khí vào Khu 5 ngắn hơn so với đường biển vào Nam Bộ nhưng khó khăn trong việc tìm bến. Bờ biển Khu 5 trống trải, các cửa sông tàu ta có thể vào được thì địch đã chiếm giữ. Ngoài khơi, máy bay và tàu chiến địch kiểm soát gắt gao. Trước yêu cầu của lịch sử, Bộ Tư lệnh Hải quân phối hợp với Bộ Tham mưu Quân khu 5 tiến hành nghiên cứu địa hình, xác định được các bến có thể tiếp nhận vũ khí: Bình Đào (Quảng Nam), Đạm Thủy (Quảng Ngãi), Lộ Giao (Bình Định), Vũng Rô (Phú Yên). Lộ Giao là bến đầu tiên tiếp nhận hàng. Tuy nhiên, bến Lộ Giao có khả năng bị địch phát hiện sau khi Tàu 401 gặp nạn ngày 01 tháng 11 năm 1964. Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ thị: Không sử dụng bến Lộ Giao nữa, cần tìm bến mới ở Phú Yên–nơi đang cần vũ khí. Thực hiện chỉ thị của Đại tướng, Bộ Tư lệnh Hải quân quyết định chọn Vũng Rô làm bến mới tiếp nhận vũ khí cho Khu 5.

Trước khi Vũng Rô tiếp nhận hàng, quân dân Liên tỉnh vẫn đẩy mạnh phong trào phá ấp chiến lược, chống càn, chủ động tiến công địch trong lúc chúng hành quân càn quét và cả trong cứ điểm. Đầu tháng 7 năm 1964, Bộ Tư lệnh Phân khu Nam thành lập; đồng chí Lư Giang làm Tư lệnh trưởng, đồng chí Năm Phổ là Bí thư Liên tỉnh ủy kiêm Chính ủy phân khu; trực tiếp chỉ huy lực lượng vũ trang 03 tỉnh: Phú Yên, Khánh Hòa và Đắc Lắc. Bộ Tư lệnh phân khu phát động phong trào: “tác chiến tiêu diệt, tiêu hao thật nhiều sinh lực địch, bồi dưỡng ta, xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh, đi đôi với phong trào phá ấp giành dân ”. Phong trào đấu tranh dâng cao, thực tiễn đặt ra vấn đề: tiêu diệt nhiều xe thiết giáp M113–vũ khí chủ công của địch trong chiến thuật “thiết xa vận”. Chiến trường cho chúng ta kinh nghiệm bắn hạ máy bay trực thăng bằng những loại súng trường bộ binh thông thường, nhưng để bắn cháy xe thiết giáp M113 điều quan trọng là có súng hỏa lực B40, B41.

 

Về đầu trang

 

Lúc bấy giờ tại Phú Yên, phong trào đấu tranh chính trị lên cao; nhiều địa phương tổ chức đội quân “tóc dài” biên chế thành đại đội, tiểu đoàn; góp phần tích cực vào việc đánh bại chiến thuật “thiết xa vận”. Ngày 28 tháng 7 năm 1964, tại xã Hòa Đồng, chị em dang tay chặn 06 xe M113 tiến vào xã đánh phá. Bằng lí lẽ tình cảm, chị em đã thuyết phục được binh sĩ ngụy quay xe. Trưa ngày 19 tháng 8, 08 xe M113 càn vào xã Hòa Thịnh bị chị em vây kín, địch buộc phải rút lui. Ngày 24 tháng 8, chị Bùi Thị Liễu ở xã Hòa Mỹ dẫn đầu đoàn đấu tranh nằm cản đầu xe M113 làm địch phải lui xe. Cuối tháng 8–đầu tháng 9, nhân dân (lực lượng chính là phụ nữ) tổ chức hàng chục cuộc đấu tranh chặn xe M113 . Lịch sử ghi nhận công lao của chị em, nhưng chúng ta không thể đánh bại hoàn toàn địch, trực tiếp là chiến thuật “thiết xa vận”, bằng tình người được. Cho đến cuối năm 1964, toàn tỉnh Phú Yên có 3.987 du kích nhưng chỉ được trang bị 468 khẩu súng . Như vậy, cần thiết phải tăng cường vũ khí để tiêu diệt, tiêu hao thật nhiều sinh lực địch, phát triển lực lượng vũ trang của ta.

Giữa năm 1964, ta làm chủ được nhiều đoạn bờ biển dài hàng chục km ở Phú Yên. Đây là cơ sở thực tiễn trước tiên để tổ chức tiếp nhận hàng chi viện tại Vũng Rô. Vũng Rô là một vịnh nhỏ, nằm sát quốc lộ 1 dưới chân đèo Cả, có độ sâu cho tàu trọng tải lớn cập bến được. Hàng nghìn thanh niên, du kích đã được chọn lựa làm nhiệm vụ xây dựng cầu cảng, bốc hàng dưới tàu lên và tổ chức cất giấu. Cầu cảng được làm từ lúc chập choạng tối đến trước 24 giờ phải xong; cầu làm bằng gỗ dài hơn 20m; bốc hàng xong lại phải tháo gỡ để địch không phát hiện. Đồng chí Trần Suyền–Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Phú Yên–được Đảng uỷ Phân khu Nam cử phụ trách công tác tổ chức đón tàu từ miền Bắc vào. Ở miền Bắc, Tàu 41 của Đoàn 125 được chọn đi chuyến đầu tiên vào Vũng Rô.

Tháng 10 năm 1964, các tỉnh đồng bằng Khu 5 bị một trận lụt rất lớn tàn phá. Trận lụt đã cướp đi 50% tài sản, lương thực ở trong nhà, phá hoại hết hoa màu ngoài đồng, cuốn trôi hàng ngàn người cùng nhiều nhà cửa, vật nuôi, công cụ sản xuất. Tại Phú Yên, “gần 5000 mẫu ruộng lúa, ngô; 4.000.000 gốc mì, hàng ngàn ngôi nhà, gia súc bị nước cuốn trôi” . Tình hình đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến các mặt của cuộc kháng chiến; nạn đói hoành hành khắp nơi. Lợi dụng thiên tai, địch tăng cường dùng xe M113 lội nước càn quét đánh phá ác liệt các lực lượng cách mạng. Do đó, việc cung cấp vũ khí, lương thực cho Khu 5 càng trở nên bức thiết.

Lúc 24 giờ đêm 16 tháng 11 năm 1964, Tàu 41; do đồng chí Hồ Đắc Thạnh làm Thuyền trưởng, đồng chí Trần Hoàng Chiếu làm Chính trị viên; chở 45 tấn vũ khí rời bến Bãi Cháy lên đường vào Khu 5. Đến 23 giờ đêm 28 tháng 11, tàu cập bến Vũng Rô. Hàng hóa nhanh chóng được chuyển vào cất giấu an toàn trong các hang núi. Sau chuyến đầu tiên thắng lợi, Tàu 41 nhận nhiệm vụ thực hiện chuyến thứ hai. Đêm 20–rạng 21 tháng 12 năm 1964, tàu xuất phát. Ngoài vũ khí, tàu còn chở 03 tấn gạo để cứu đói (quà của Bộ Tư lệnh Hải quân). Đêm 25 tháng 12, tàu cập bến Vũng Rô an toàn .

Tiếp nhận viện trợ từ miền Bắc, Phân khu Nam đã kịp thời phân phối gần 01 vạn khẩu súng các loại và hàng chục tấn đạn, thuốc nổ, thuốc chữa bệnh cho các lực lượng vũ trang của ba tỉnh trong phân khu. Riêng tại Phú Yên, du kích được trang bị thêm 2000 khẩu súng trường . Những khó khăn về vũ khí của Phân khu Nam nhanh chóng được khắc phục, thực lực hậu cần kháng chiến của từng tỉnh được tăng cường, các lực lượng vũ trang cách mạng nhờ đó mà phát triển mạnh cả về số lượng lẫn chất chất; tiến tới thực hiện được mục tiêu mà hội nghị Khu ủy đầu năm đề ra: “củng cố và phát triển mạnh mẽ lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, tăng cường thực lực về kinh tế.” Đây là ý nghĩa lớn nhất của việc vận chuyển vũ khí vào Vũng Rô cho đến cuối năm 1964, bởi vì nó có sự gắn kết hữu cơ với vấn đề đạt được hai mục đích đầu tiên của đợt hoạt động Thu Đông.

Sang năm 1965, công tác chi viện vũ khí cho chiến trường miền Nam vẫn được tiếp tục. Đối với Khu 5, ngày 28 tháng 01 năm 1965, Tàu 41 chở 45 tấn vũ khí thực hiện vận chuyển chuyến thứ ba. Ngày 31 tháng 01, tàu đến Vũng Rô, sau đó trở lại miền Bắc mà địch vẫn không phát hiện được hành động của ta. Ngày 01 tháng 02 năm 1965, Tàu 143; do đồng chí Lê Văn Thêm làm Thuyền trưởng, đồng chí Phan Văn Bảng làm Chính trị viên; chở 63 tấn vũ khí vào lại bến Lộ Giao. Do địch tăng cường kiểm soát đường biển, Tàu 143 được lệnh chuyển vào Vũng Rô. Đến 23 giờ đêm 15 tháng 02 năm 1965, Tàu 143 cập bến . Hàng hóa viện trở đã được bốc dỡ lên bờ, ta chuyển được lên căn cứ một số vũ khí. Sau đó, tàu gặp nạn nên không ra khơi ngay trong đêm, phải đậu lại bến. Chiều hôm sau, địch phát hiện Tàu 143–Tuyến vận chuyển đường biển chiến lược viện trợ vũ khí cho Khu 5 đã bị lộ. Địch đánh phá ác liệt khu vực Vũng Rô. Phần lớn số vũ khí của chuyến này bị phá hủy. Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ thị: Phải ngừng ngay việc vận chuyển bằng đường biển vào miền Nam. Thường vụ Đảng ủy Quân chủng Hải quân họp đánh giá: Đây là một tổn thất nghiêm trọng có tính chiến lược. Sau sự kiện này, tính chất bí mật bất ngờ không còn nữa, quá trình vận chuyển của quân chủng bước sang giai đoạn mới: Đối mặt quyết liệt với địch. Cuộc kháng chiến ở Khu 5 nói chung và Phân khu Nam nói riêng thiếu một nguồn sức mạnh quan trọng, cũng có nghĩa tác động to lớn của ba chuyến vận chuyển thành công đến chiến trường càng nổi bật.

Qua ba chuyến đó, Vũng Rô tiếp nhận gần 200 tấn vũ khí , bổ sung kịp thời cho các lực lượng vũ trang Phân khu Nam. Cụ thể ở Phú Yên, đến đầu năm 1965, ta trang bị đủ vũ khí cho các đơn vị tập trung của tỉnh, huyện và dân quân du kích; riêng lực lượng du kích có khoảng 6.963 người được trang bị gần 3000 khẩu súng các loại (tăng khoảng 2.976 người và 2.532 súng so với cuối năm 1964). Xưởng quân giới bảo đảm được nguyên vật liệu (đặc biệt là thuốc nổ TNT) để sản xuất các loại lựu đạn, mìn, thủ pháo có uy lực sát thương cao; Xưởng cũng tiến hành nghiên cứu sản xuất mìn phá rào, mìn chống tăng, mìn và lựu đạn gài. Quân dân Phân khu Nam đã góp phần đánh bại Kế hoạch McNamara đẩy chiến lược Chiến tranh đặc biệt đến chỗ phá sản hoàn toàn trên chiến trường Khu 5.

Những chuyến hàng vận chuyển vào Vũng Rô còn mang đến cho Khu 5 tình thương của Đảng, của Bác và của đồng bào miền Bắc ruột thịt, tô thắm thêm tình đoàn kết giữa quân dân hai miền trong thực hiện nhiệm vụ cách mạng. Nó củng cố niềm tin chắc thắng, thiết thực cổ động tinh thần chiến đấu cho cán bộ, chiến sỹ trên các chiến trường, vì thắng lợi chung.

Vận chuyển vũ khí vào Vũng Rô (Phú Yên) bằng đường biển (cuối năm 1964–đầu năm 1965) mang một ý nghĩa lịch sử trọng đại. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, có sự phối hợp chi viện của hậu phương, thực lực kháng chiến đã được tăng cường mạnh mẽ, góp phần tích cực vào sự nghiệp cách mạng. Đồng thời, còn để lại những bài học kinh nghiệm quý báu về xác định tuyến vận tải và tính chất bí mật bất ngờ, về quá trình xây dựng bến bãi, cầu tàu và tổ chức tiếp nhận hàng... Đó là những kinh nghiệm rất cần được nghiên cứu vận dụng trong điều kiện mới.
 

Thiết kế trang web: Trung tâm CNTT Phú Yên - Email: pyitc@dng.vnn.vn

Về đầu trang