|
Nói tới những chiến công của quân và dân Phú Yên trong 2 cuộc kháng chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ không thể không nhắc tới “sự kiện Vũng Rô”,
gắn liền với con đường vận tải chiến lược- “Đường Hồ Chí Minh trên
biển”. Cùng với đường Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh
trên biển đã trở thành biểu tượng vinh quang của cả dân tộc, hiện thân
của ý chí và khát vọng đấu tranh thống nhất nước nhà. Bốn mươi hai năm
đã trôi qua nhưng tên con đường trên biển Đông, cũng như sự kiện Vũng Rô
vẫn tồn tạisáng ngời và vẻ vang trong trang sử của tỉnh nhà và của cả
dân tộc. Những câu chuyện huyền thoại, những kỳ tích hào hùng của cán
bộ, chiến sỹ, dân công bến, tàu không số Vũng Rô vẫn luôn được nhắc đến
đầy xúc động, tự hào. Trong những nưm qua, các cấp, ngành đã tổ chức một
số hoạt động nghiên cứu, đánh giá, về đường Hồ Chí Minh trên biển như
gặp gỡ, tọa đàm các nhân chứng, đưa cán bộ đi thăm các chiến trường xưa,
đề nghị Bộ Tư lệnh Hải quân trao kỷ niệm chương, một số bài báo khoa học
và một số tác phẩm văn học nghệ thuật phản ảnh về đề tài này nhưng chưa
đầy đủ. Các hoạt động mới ở góc độ tuyên truyền chưa tương xứng với tầm
vóc to lớn của nó. Do đó cần phải nghiên cứu đánh giá sâu sắc hơn, cần
tổ chức tọa đàm, hội thảo ở nhiều cấp độ với nhiều nội dung khác nhau
như: việc tổ chức, chỉ huy đoàn Tàu Không số; chọn lọc, xây dựng con
người, bến bãi; công tác bảo đảm bí mật, công tác chuẩn bị, tiếp nhận,
vận chuyển, bảo vệ ở bến...Hội thảo cần có sự tham gia của các cơ quan
nghiên cứu để thẩm định các tư liệu, sự kiện lịch sử. Qua hội thảo, phải
ra được kỷ yếu làm cơ sở để khẳng định đúng tầm vóc, diện mạo của sự
kiện này, rút ra được những bài học bổ ích và xác định được ngày truyền
thống “Sự kiện Tàu Không số Vũng Rô” để giáo dục truyền thống, góp phần
phục vụ cho việc bảo đảm an ninh-quốc phòng và phát triển kinh tế của
tỉnh hiện nay và tương lai. Trên cơ sở nghiên cứu nhiều nguồn tư liệu
thành văn cũng như khai thác các nhân chứng đã từng tham gia sự kiện
Vũng Rô, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đưa ra một số cơ sở
lý luận và thực tiễn để xác định và đề xuất ngày truyền thống Tàu Không
số Vũng Rô.
Về nguyên tắc, ngày truyền thống của một sự
kiện, đơn vị, địa phương, tổ chức phải là ngày hội được một trong nhiều yếu
tố tiêu biểu nhất của sự kiện, đơn vị, địa phương, tổ chức đó. Thông thường,
tiêu chí được lựa chọn đầu tiên là ngày quyết định thành lập đơn vị, ngành
như: Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Ngày truyền thống của Đoàn
125 hải quân (23.10.1961); ngày xảy ra sự kiện: Ngày Quốc khánh nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02.9.1945), Ngày Nam Bộ kháng chiến; ngày
tiêu biểu nhất của một sự kiện (nếu sự kiện xãy ra trong một khoảng thời
gian dài) như: Cách mạng tháng 8, hoặc là ngày được các cấp có thẩm quyền
công nhận như: Ngày thương binh liệt sỹ, Ngày Hội quốc phòng toàn dân
(22.12.1981) v.v..Những tiêu chí đó hết sức quan trọng, là cơ sở để tổ chức
gặp mặt, ôn lại truyền thống, vinh danh những người đã góp phần làm nên sự
kiện, hoặc là đối tượng trung tâm của sự kiện nhân ngày kỷ niệm sự kiện đó.
Trở lại với “Sự kiện Tàu Không số Vũng Rô”,
chúng tôi xin đưa ra một số vấn đề tiêu biểu có liên quan.
Trước hết là việc thành lập Đoàn
759, tiền thân của Đoàn 125.
Sau khi Đoàn 559 ra đời và đi vào hoạt động,
đồng thời những chiếc thuyền từ Nam Bộ vượt biển ra Bắc an toàn, khiến việc
xúc tiến thành lập đoàn vận tải thủy tiếp tế cho Miền Nam càng trở nên khẩn
trương. Đồng chí Lê Duẩn đã từng căn dặn các đồng chí Quân ủy Trung ương:
“Phải tuyệt đối giữ bí mật. Nếu để lộ bí mật là mất tất cả”. Do đòi hỏi bí
mật và tính chất quan trọng của việc mở tuyến đường vận tải thủy chiến lược
trên biển nên Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương trực tiếp nắm và chỉ đạo
việc tổ chức mở đường mà không giao cho cơ quan trung gian nào. Người được
Quân ủy Trung ương giao trực tiếp chỉ đạo là Trung tướng Trần Văn Trà, Phó
Tổng tham mưu trưởng.
Ngày 23/10/1961, Bộ Quốc phòng ra
Quyết định 97/QĐ-QP
(do Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Hoàng Văn Thái ký)
về việc thành lập Đoàn
759- Đoàn vận tải thủy. Đoàn có nhiệm vụ mua sắm thiết bị, chi viện vũ khí
cho miền Nam bằng đường biển.1
Từ đó ngày 23.10 trở thành ngày truyền thống chính thức của Đoàn 759 trước
đây và Đoàn 125 sau này. Do tính chất nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, Đoàn 759
đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương. Cuối năm 1961, đề án
công tác của Đoàn đã được Quân ủy và Bộ Quốc phòng thông qua. Đề án công tác
gồm những vấn đề chính:
Phương tiện vận chuyển:
trước mắt tận dụng những phương tiện vận chuyển
thô sơ, nửa hiện đại. Sau đó tổ chức nghiên cứu để có những đội tàu tương
đối hiện đại, trọng tải lớn, có thể hoạt động quanh năm, không phụ thuộc vào
thời tiết, gió bão; và khi có thời cơ, sẽ sử dụng những đội tàu
có sức chở hàng trăn tấn trở lên.
Phương châm hoạt động:
Kết hợp hoạt động bằng phương thức hợp pháp và bất
hợp pháp. Lấy hoạt động hợp pháp làm phương thức chủ yếu. Quá
trình vận chuyển phải chủ động, táo bạo, bất ngờ, hết sức lợi dụng sơ hở của
địch để đưa hàng đến bến. Đồng thời phải có sẵn phương án thật mưu trí, linh
hoạt để đối phó với địch khi bị lộ. Khi đã lộ phải kiên quyết chiến đấu bảo
vệ hàng, nếu cần thì nổ tàu giữ bí mật.
Dự kiến khả năng đối phó quyết liệt của địch,
Bộ Quốc phòng cho phép đoàn, nếu gặp khó khăn, đưa
được 50% số hàng đến nơi cũng là đạt yêu cầu hoàn thành nhiệm vụ.
Sau khi xem xét, nghiên cứu mọi mặt: khả năng,
phương tiện, con người và những kinh nghiệm, bài học rút ra từ những chiếc
thuyền Nam Bộ ra, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng quyết định
hướng đột phá của đoàn sẽ là Nam Bộ, sau đó sẽ
phát triển ra Khu 6, Khu 5. Qua thực tế vận chuyển của đoàn sau
này, đã chứng tỏ quyết định đó của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng hoàn
toàn đúng đắn và sáng suốt2.
Vấn đề thứ hai là quá
trình chuẩn bị, bến bãi nhân sự ở Vũng Rô để đón tàu vào.
Tháng 7/1963, đồng chí Trần Suyền, Uỷ viên
Thường trực Liên Tỉnh ủy III, nguyên Bí thư Tỉnh ủy nhận được điện của Trung
ương về việc đề cập cử người thạo vùng biển ra miền Bắc để hướng dẫn tàu
vào. Chấp hành chỉ thị của trên, tháng 8/1963, Thường vụ Tỉnh ủy Phú Yên
quyết định cử tổ thứ nhất gồm 3 đồng chí là Lê Kim Tự, Trần Kiên, Lê Xuân
quê ở Hòa Hiệp, Tuy Hòa ra Bắc. Ba đồng chí trên đều sống bằng nghề chài
lưới từ nhỏ. Đến tháng 10/1963, tổ thứ hai gồm 2 đồng chí Phạm Dợn và Trần
Mỹ Thành quê ở Sông Cầu được Tỉnh ủy tiếp tục điều động ra miền Bắc3
.
Năm 1964, để giải quyết vấn đề trang bị vũ khí,
nhất là vũ khí đảm bảo cho tác chiến tập trung ở Khu 5 đang gặp nhiều khó
khăn, Bộ Quốc phòng chỉ thị cho Bộ Tổng tham mưu (bộ phận B) kết hợp với Bộ
tư lệnh Hải quân nghiên cứu nhiệm vụ mở bến, chi viện vũ khí cho vùng ven
biển Khu 5. Vận chuyển vũ khí vào Khu 5 là công việc phức tạp và vô cùng khó
khăn. Mặc dù cung đường có ngắn hơn so với Nam Bộ4,
song việc đặt bến rất khó khăn. Vùng biển Khu 5 không có nhiều kênh rạch và
rừng cây um tùm phủ xuống như ở Nam Bộ. Các cửa sông hẹp, đồn địch ken dày
và rất nhiều căn cứ hải thuyền của ngụy. Là vùng sát giới tuyến lại nằm sát
quốc lộ 1 nên hệ thống ra đa, tàu chiến và máy bay của địch kiểm soát cẩn
mật. Việc mở bến vào Khu 5, Bộ Tổng tham mưu và Bộ Tư lệnh Hải quân tiến
hành chặt chẽ, thận trọng; phương châm là khẩn trương nhưng không nóng vội.
Đã đi là chắc thắng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhiều lần căn dặn: “Con
đường biển là con đường dành cho đồng bằng sông Cửu Long”. Ý đại tướng muốn
chỉ ra rằng, Khu 5 dù khó vẫn có thể chi viện bằng đường bộ, còn nếu lộ con
đường biển là cắt mọi sự chi viện cho Nam Bộ . Nhận được chỉ thị của Trung
ương và Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Bộ Tư lệnh Phân khu Nam (gồm: Phú Yên,
ĐăkLăk, Khánh Hòa) do đồng chí Năm Phổ tức Nguyễn Hồng Châu làm Bí thư, đồng
chí Lư Giang làm Tư lệnh phối hợp với Tỉnh ủy Phú Yên chọn xây dựng bến bãi
để nhận vũ khí chi viện cho 3 tỉnh bằng đường biển5
. Sau khi soát xét tình hình mọi mặt, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quyết định mở
một số bến trong đó có Vũng Rô của Phú Yên. Ngày 19/5/1964, đồng chí Trần
Suyền, Uỷ viên thường trực Liên Tỉnh uỷ III, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên
nắm một trung đội lực lượng vũ trang về địa bàn hai xã Hoà Hiệp, Hoà Xuân
cùng cán bộ Tỉnh uỷ Phú Yên, Huyện uỷ Tuy Hoà xây dựng bàn đạp bên Vũng Rô
để chỉ huy trực tiếp việc chuẩn bị bến bãi, cơ sở ở Vũng Rô để có thể tổ
chức tiếp nhận hàng và vũ khí chi viện của Miền Bắc bằng đường biển6.
Về đầu trang
Công tác được ưu tiên hàng đầu là chuẩn bị nhân lực để bảo vệ bến và vận
chuyển bốc dõ hàng hoá. Tỉnh uỷ đã giao cho các xã Hoà Xuân, Hòa Hiệp phải
chuẩn bị tổ chức một đội thanh niên xung phong loại A, từ 50 đến 100 người
cả nam lẫn nữ, có ý thức chính trị tốt, sức khoẻ tốt, tuổi từ 35 trở xuống;
tổ chức các đội dân công, mỗi xã từ một trăm đến hai trăm người ở trong vùng
giải phóng, có tinh thần vững, khoẻ mạnh. Ngoài ra, còn tổ chức lực lượng
tập trung. Phân khu quyết định rút trung đội Miền Đông của huyện và các thôn
Phú Lạc, Đa Ngư, Thọ Lâm, Lò 3 (Hoà Hiệp), mỗi địa phương một trung đội du
kích mạnh để thành lập đơn vị mới (K60). Công tác bảo vệ được gấp rút triển
khai. Bởi lúc này địch hoạt động tuần tra canh gác cẩn mật. Trên đỉnh đèo Cả
có Bót Pơ- tí, mối đe doạ thường xuyên được lực lượng ta đặc biệt cảnh giác.
Một đội du kích Hoà Xuân được lệnh bao vây bót dài ngày, theo dõi chặt mọi
hành động của địch, kiên quyết đánh chúng lùng sục ra ngoài bót. Tỉnh uỷ còn
chỉ thị cho một đơn vị đặc công luồn sâu, bám Tu Bông phối hợp với du kích
địa phương quấy rối đánh địch nhằm đánh lạc hướng địch. Du kích Hoà Xuân có
nhiệm vụ ngày đêm bám Quốc lộ 1, bảo đảm an toàn hành lang đông-tây, có kế
hoạch đánh địch bắt chúng hoạt động theo ý đồ của ta.
Nhận đựơc những tin tức do bộ phận trinh sát và
cơ quan quân sự các địa phương báo ra, Bộ Tư lệnh Hải quân thông qua phương
án vận chuyển vào Khu 5 do cơ quan tham mưu Đoàn 125 trình bày. Bộ Tư lệnh
nhấn mạnh: các tàu vào Khu 5 phải thật khôn khéo đánh lừa địch trên đường
hành trình; táo bạo, bí mật thọc sâu vào bến; nhanh chóng dỡ hàng và rút ra
trong đêm. gặp trường hợp đặc biệt mới ở lại trong ngày, song phải có phương
án chiến đâu nếu bị lộ.7 Các bến ở Khu 5 đa
phần là bến ngang không cầu cảng, không kênh rạch vì vậy tàu nằm lại dễ bị
lộ. Vì vậy Đoàn 125 chuẩn bị 2 phương án đưa hàng vào Khu 5. Một là nếu bến
lấy hết trong đêm là thuận nhất. Hai là, nếu trường hợp hàng chưa dỡ xong
trời sáng thì thả hàng xuống biển để bến mò vớt sau.
Sau khi kiểm tra mọi việc cẩn thận, Bộ Tư lệnh
Hải quân quyết định chọn bến đầu tiên mở đường vào Khu 5 là bến Lộ Giao,
Bình Định. Ngày 01 tháng 11 năm 1964, tàu 401 cập bến Lộ Giao. Tàu bị mắc
cạn, tuy ta đã lấy được hàng an toàn, nhưng tàu hỏng, phải đốt cháy để phi
tang. Tình hình tàu 401 đi Lộ Giao được đồng chí Phan Hàm, Cục phó Cục tác
chiến báo cáo lên Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đại tướng chỉ thị mấy điểm:
không sử dụng bến Lộ Giao nữa; phải theo dõi chặt tình hình địch ở quanh khu
vực vào và kết luận xem chúng có phát hiện ra ý đồ của ta không; tìm bến mới
ở Phú Yên. Phú Yên đang cần súng đạn.
Vấn đề thứ ba, hành trình
của chuyến tàu đầu tiên cập bến Vũng Rô.
Chấp hành chỉ thị của đồng chí Bí thư Quân uỷ
Trung ương, đồng chí Phan Hàm xuống ngay Hải Phòng để trao đổi với tư lệnh
Hải quân Nguyễn Bá Phát. Hai người nhất trí chọn Vũng Rô làm điểm đổ hàng
cho khu vực Phú Yên. Để thực hiện chuyến đi vào Vũng Rô, Bộ Tư lệnh Hải quân
và Đoàn 125 chọn Tàu sắt 41. Đây là chiếc tàu sắt đầu tiên của Đoàn 125 đi
vào Khu 5. Công việc chuẩn bị cho Tàu 41 vào Khu 5 tiến hành thận trọng khẩn
trương. Tàu có 16 đồng chí, phần lớn quê ở Phú Yên và Bình Định, do đồng chí
Hồ Đăc Thạnh làm Thuyền trưởng, đồng chí Trần Hoàng Chiếu, Chính trị viên.
Đầu tháng 11 năm 1964, Tư lệnh Hải quân Nguyễn Bá Phát, Chính uỷ Hoàng Trà
cùng lãnh đạo Đoàn 125 chính thức giao nhiệm vụ cho Tàu 41 vào Phú Yên.
24 giờ ngày 16
tháng 11 năm 1964,
Tàu 41 chở 45 tấn vũ khí rời bến Bãi Cháy, đích thân đồng chí Tư lệnh
Hải quân cùng lãnh đạo Đoàn 125 ra bến tiễn đưa. Cùng đi với tàu có đồng chí
Trần Ngọc Quang, quê Phú Yên; đồng chí Võ, quê Bình Định; đồng chí Long,
đồng chí Kiến quê Quảng Nam vào tăng cường cho bến. Hành trình của tàu gặp
gió mùa Đông Bắc, sóng cấp 6, cấp 7. Sở chỉ huy chỉ thị cho tàu dừng lại ở
Hải Nam gần 10 ngày. 18 giờ ngày 26 tháng 11, tàu được lệnh xuất phát.
Đến 23 giờ ngày 28 tháng 11 năm 1964,
Tàu 41 cập bến vũng Rô. Do lượng hàng lớn, bến không kịp lấy hết, Tàu 41đành
ở lại, nguỵ trang ém vào chân núi. Hôm sau, lực lượng bến tiếp tục xuống lấy
hàng, chuyển vào các hang núi cất giấu an toàn. Bắt đầu từ đây, Vũng Rô xuất
hiện những chuyến tàu không số lúc ẩn, lúc hiện như huyền thoại, tiếp tế
được nhiều vũ khí cho chiến trường Nam Trung Bộ, Tây Nguyên. Cũng bắt đầu từ
đây lịch sử Phú Yên lại ghi thêm một mốc son mới trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ. Cùng với các lực lượng vũ trang và nhân dân Phú Yên, cán bộ, chiến
sỹ, dân công bến, tàu Không số Vũng Rô đã góp phần to lớn vào sự nghiệp giải
phóng quê hương, thống nhất đất nước.
Qua các vấn đề chúng tôi đã đề cập có thể khẳng
định, sự tồn tại của con đường vận tải trên biển Đông trong kháng chiến
chống Mỹ như một phần tất yếu của lịch sử, tàu vào Vũng Rô là tất yếu của
việc hoạt động chi viện từ hậu phương Miền Bắc vào chiến trường Miền Nam,
trong đó có Vũng Rô. Điều này bắt đầu từ sự chia cắt đất nước, từ nhu cầu
đòi hỏi của cách mạng miền Nam nói chung, Phú Yên nói riêng. Để thống nhất
đất nước, chúng ta phải đánh thắng Mỹ, Miền Nam phải được sự chi viện sức
người và vũ khí từ Miền Bắc. Mặt khác, Vũng Rô có những điều kiện tự nhiên
thuận lợi để bảo đảm cho tàu cập bến.
Trên cơ sở các sự kiện, chúng tôi xin đề xuất
một số ý kiến sau:
1- Ngày truyền thống Sự kiện Tàu Không số Vũng
Rô phải là ngày các cấp có thẩm quyền (Bộ Tư lệnh Phân khu Nam hoặc Tỉnh uỷ
Phú Yên) ra quyết định lấy Vũng Rô làm bến để đón tàu vào; hoặc là ngày Bộ
Quốc phòng ra quyết định điều động Tàu vào Vũng Rô.
Quá trình nghiên cứu tài liệu chúng tôi không
tìm được văn bản chính thức nào của ngày quyết định lấy Vũng Rô làm bến
chính thức của Phú Yên để chuẩn bị đón tàu vào. Đây là mốc hết sức quan
trọng, là kết quả của quá trình chuẩn bị nhân lực, khảo sát hết sức công
phu, là cơ sở đầu tiên cho “Sự kiện Tàu Không số Vũng Rô” được hình thành và
tồn tại. Rất tiếc, nhân chứng quan trọng nhất, người quyết định cao nhất
trong việc này là đồng chí Trần Suyền đã mất. Mặc dầu ngày 19.5.1964, đồng
chí Trần Suyền chính thức về trụ Vũng Rô để chỉ đạo mọi công tác chuẩn bị,
nhưng không thể lấy ngày này làm ngày truyền thống, bởi quyết định lấy Vũng
Rô làm bến chính thức của Phú Yên để tiếp nhận vũ khí từ miền Bắc vào theo
đường vận tải biển đã có từ trước đó.
2- Cũng không thể lấy ngày giao nhiệm vụ cho
Tàu 41 vào Phú Yên (đầu tháng 11 năm 1964) để làm ngày truyền thống, mặc dầu
đây cũng là mốc hết sức quan trọng. Theo Quyết định
97/QĐ-QP ngày 23.10.1961, về việc thành lập đoàn
759- Đoàn vận tải thủy. Chúng tôi xin được nhấn mạnh: Đoàn có
nhiệm vụ mua sắm thiết bị, chi viện vũ khí
cho miền Nam bằng đường biển.
Phạm vi hoạt động của Đoàn là toàn chiến trường Miền Nam. Mặt khác, do tính
chất nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, Đoàn 759 được đặt dưới sự chỉ đạo trực
tiếp của Quân ủy Trung ương. Tàu vào chiến trường nào, Quân uỷ Trung ương
chỉ thị trực tiếp cho cấp có thẩm quyền, không cần thiết ban hành văn bản
hành chính phổ biến rộng rãi để bảo đảm bí mật. Do đó chúng tôi không tìm
được văn bản quyết định của các cấp có thẩm quyền chỉ thị cho Tàu 41 vào Phú
Yên.
3- Ngày 16 tháng 11 năm 1964, ngày Tàu 41 chính
thức rời bến Bính Động mang theo vũ khí chi viện cho chiến trường Phú Yên,
ngày khởi đầu của hành trình Tàu Không số vào Vũng Rô, cũng có nhiều ý
nghĩa. Tuy nhiên, không thể lấy ngày này làm ngày kỷ niệm, bởi hành trình
của tàu gặp nhiều yếu tố bất trắc, có thể cập được bến Vũng Rô mà cũng có
thể là không được. Tất nhiên, ở đây chỉ là giả thiết chỉ khả năng trước khi
tàu xuất bến (hiệu quả của các chuyến tàu Không số, Trung ương chỉ đặt 50%
đã là thắng lợi). Mặt khác, lấy ngày này chưa đề cập trọn vẹn, bao quát sự
kiện, chỉ mới nói đến tàu, chưa đề cập đến bến.
4- Do vậy, chúng tôi đề nghị lấy ngày
28 tháng 11 năm 1964 làm ngày truyền thống sự kiện
Tàu Không số Vũng Rô. ( Nhân đây, chúng tôi cũng xin đính chính
lại một số tư liệu đã phản ảnh chưa đúng ngày chuyến tàu đầu tiên cập bến
Vũng Rô ). Bởi đây là sự kiện tiêu biểu nhất của “Sự kiện Tàu Không số Vũng
Rô”. Đó là kết quả của quá trình chuẩn bị chu đáo từ Trung ương đến địa
phương, sự chỉ đạo sát sao của Đảng, Bác Hồ, Quân ủy Trung ương, sự hiệp
đồng chặt chẽ giữa các lực lượng, sự nổ lực phấn đấu xây dựng, lao động,
chiến đấu của toàn thể đội ngũ cán bộ, chiến sỹ, dân công bến, Tàu Không số
Vũng Rô, với bản lĩnh chính trị vững vàng, mưu trí, dũng cảm đã không ngại
hy sinh gian khổ trong hàng năm trời để lập nên kỳ tích góp phần đưa Vũng Rô
thành một điểm sáng trên con đường huyền thoại-Đường Hồ Chí Minh trên biển.
Cũng xin được nhắc lại về sự kiện mà địch đã
rêu rao ầm ĩ là “Sự kiên Vũng Rô” và coi đây là một thắng lợi hết sức to lớn
của chúng. Mặc dù, sự kiện Vũng Rô đã trở nên nổi tiếng trên toàn quốc cũng
như quốc tế sau khi Tàu 143 bị lộ nhưng đây chỉ là một sự cố không may của
Tàu 143 trên hành trình vận chuyển, một tổn thất quan trọng của công tác chi
viện chiến trường bằng đường biển. Vụ Vũng Rô làm thay đổi tình thế. Yếu tố
bí mật, bất ngờ đã không còn. Kẻ địch bắt đầu rõ phần nào ý đồ của ta, việc
vận chuyển chi viện cho miền Nam bằng đường biển sẽ gặp khó khăn. Nhưng nó
không làm ảnh hưởng đến chiến công chói lọi của con đường vận tải chiến lược
trên biển. Sở dĩ chúng tôi nhắc lại sự kiện này bởi có ý kiến cho rằng: “ Sự
kiện Vũng Rô là một thất bại của ta, sau sự kiện này, Vũng Rô không còn tiếp
nhận được hàng chi viện nữa”. Tuy nhiên đây chỉ là tổn thất trên một điểm,
một hướng của chiến trường, con đường chiến lược trên biển vẫn tiếp tục hoạt
động vận chuyển vũ khí trang bị và nhân lực cho chiến trường miền Nam đến
ngày thắng lợi.
Trên đây là một vài ý kiến đề xuất để hội thảo
tham khảo kết luận. Thiết nghĩ, tầm vóc, diện mạo của Sự kiện Tàu Không số
Vũng Rô cần phải khẳng định, đánh giá đúng với những gì nó đã có. Một số
nhân chứng đã mất, tư liệu thành văn không có nhiều, việc đánh giá nhìn nhận
có thể gặp nhiều khó khăn nhưng chắc chắn hội thảo sẽ làm được điều ước
nguyện của Đảng bộ, quân và dân Phú Yên là kết luận được ngày truyền thống
của sự kiện Tàu Không số Vũng Rô để vinh danh cán bộ, chiến sỹ nhân dân Phú
Yên những người đã góp phần làm nên kỳ tích-Đường Hồ Chí Minh trên biển.
|