Sự kiện tàu không số Vũng Rô

Mục lục | Trang trước |Trang sau

ĐẢM BẢO THÔNG TIN LIÊN LẠC CHO TÀU KHÔNG SỐ VÀO BẾN VŨNG RÔ

NGUYỄN VĂN VIỄN

Ban KHCN&MT-BCHQS tỉnh Phú Yên

NGUYỄN HỒNG ÁNH

Báo Phú Yên

Để giải quyết vấn đề trang bị vũ khí, nhất là vũ khí đảm bảo cho tác chiến tập trung đang gặp nhiều khó khăn, từ đầu năm 1964 Bộ Tư lệnh Quân khu 5 đã chỉ đạo và tổ chức nhiều đội công tác về phối hợp với các tỉnh ven biển nghiên cứu mở bến bãi để tiếp nhận vũ khí trang bị do tàu của Hải quân nhân dân Việt Nam chuyển vào. Sau khi soát xét tình hình mọi mặt, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quyết định mở một số bến trong đó có Vũng Rô của Phú Yên. Phần lớn các bến ở miền Trung là bãi ngang, trống trải lại gần căn cứ và đồn địch. Việc đưa tàu vào phải khôn khéo, bí mật, hàng hóa phải bốc xong trong đêm để đưa tàu ra khơi trước khi trời sáng. Đến giữa năm 1964 vùng giải phóng Phú Yên được mở rộng, gần hết miền núi và phần lớn nông thôn đồng bằng. Ta làm chủ bờ biển dài hàng chục cây số. Tình hình đó cho phép tỉnh Phú Yên có thể tổ chức tiếp nhận hàng và vũ khí chi viện của Miền Bắc bằng đường biển.

23 giờ ngày 28 tháng 11 năm 1964 chuyến tàu "không số" đầu tiên đã cập cảng Vũng Rô mang theo 60 tấn hàng và vũ khí, chuyến thứ 2 vào đêm 25 tháng 12 năm 1964, chuyến thứ 3 vào đêm 31tháng 01 năm 1965, chuyến thứ 4 vào ngày15/2/1965. Cả 4 chuyến đã đưa gần 200 tấn vũ khí và hàng cập bến Vũng Rô. Phân khu Nam đã phân phối gần 1 vạn khẩu súng các loại, hàng chục tấn đạn, thuốc nổ, thuốc chữa bệnh cho lực lượng vũ trang Phú Yên, Khánh Hòa, Đắk Lắk, những tỉnh xa nhất của Quân khu 5 và cũng là nơi đang gặp khó khăn nhất về súng đạn.

Đó là kết quả của quá trình chuẩn bị chu đáo từ Trung ương đến địa phương, sự chỉ đạo sát sao của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, sự hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng, của toàn thể đội ngũ cán bộ, chiến sỹ, dân công bến, tàu “không số ”Vũng Rô. Trong chiến công chung đó không thể không nhắc đến những chiến công thầm lặng của những chiến sỹ làm công tác thông tin liên lạc để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho những chuyến tàu vào. Trong phạm vi bài viết chúng tôi xin được đề cập đến vấn đề ám tín hiệu và việc bảo đảm thông tin liên lạc cho Tàu không số vào Vũng Rô. 

Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “Việc liên lạc là một việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mệnh, vì chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó bảo đảm thắng lợi1. Nhận thức được tầm quan trọng của nó, nên trong quá trình chuẩn bị, yêu cầu cấp thiết phải xây dựng được một hệ thống liên lạc chặt chẽ và bảo mật tối đa giữa Bộ Tư lệnh Phân khu Nam, Tỉnh uỷ Phú Yên, Bến Vũng Rô với Bộ Tổng tham mưu và Bộ Tư lệnh Quân khu V để đưa những chuyến “tàu không số” cập bến được an toàn.

Vũng Rô ở gần quốc lộ, địch thường xuyên cảnh giác. Trên đỉnh đèo Cả có bót Pơ-tí do nguỵ quân, sau này là lực lượng quân chư hầu Nam Triều Tiên đóng. Vũng Rô cũng cách không xa Trạm Rada của Hải quân địch đóng trên đỉnh núi Chóp Chài. Chính những đặc điểm đó, nên trong quá trình liên lạc giữa bến và tàu cần có nhiều phương thức liên lạc khác nhau để đảm bảo bí mật, an toàn tuyệt đối.

Trước hết xin đề cập đến phương thức liên lạc phổ biến, thường xuyên giữa bến và các nơi khác là liên lạc bằng tín hiệu qua đài 15w. Nguyên tắc liên lạc bằng đài 15 w đầu tiên phải có đài thu phát tín hiệu; nhân viên cơ yếu sử dụng kỹ thuật mật mã mã hoá, giải mã các nội dung thông tin chỉ huy của Bộ và các cấp bảo đảm bí mật, chính xác, kịp thời; nhân viên báo vụ trực để thu, phát tín hiệu và nhân viên quay gaguno, (máy phát điện) thường được gọi là quay viên (những nơi không có điện).

Giữa năm 1963, một đoàn gồm 10 đồng chí nhân viên cơ yếu được đào tạo tại Trường Kỹ thuật mật mã của Bộ Quốc phòng, được Bộ Tổng tham mưu điều động về Quân Khu V. Sau khi tiếp nhận đoàn cơ yếu do Bộ Tổng tham mưu điều về, Quân Khu V đã phân về Phân khu Nam 2 đồng chí nhân viên cơ yếu là Trần Sâm và Huỳnh Văn Nộ để chuẩn bị cho việc thực hiện liên lạc tiếp nhận các chuyến Tàu không số vào Bến Vũng Rô. Tháng 10-1963, 2 đồng chí Trần Sâm và Huỳnh Văn Nộ đã về đến Phú Yên. Thời gian đầu được bố trí tạm ở Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, khi Ban chỉ đạo tiếp nhận hàng vào Vũng Rô được thành lập vào giữa năm 1964 do đồng chí Trần Suyền-Uỷ viên Thường trực Liên tỉnh III, nguyên Bí thư tỉnh uỷ Phú Yên phụ trách, thì 2 đồng chí Trần Sâm và Huỳnh Văn Nộ được triển khai xuống bến.

Cũng trong năm 1963, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 đã điều 3 đồng chí Báo vụ viên là Nguyễn Y, Đoàn Văn Xuân và Nguyễn Tấn của Tiểu đoàn pháo binh 253 đang đóng quân ở sông Thò Lò- tỉnh Quảng Nam về Phú Yên chuẩn bị cho việc thông tin liên lạc để tiếp nhận Tàu không số vào Vũng Rô. Ngoài quân tư trang cá nhân, 3 đồng chí này còn có trách nhiệm đưa về an toàn một Đài phát, nhận tín hiệu 15W của Pháp (cả máy và chân máy nặng hơn 40 kg), để phục vụ cho việc liên lạc ở bến Vũng Rô sau này. Luân phiên cứ 2 người khiêng máy, một người vác chân máy, 3 ngày đi, một ngày nghỉ, đến cuối năm 1963 thì đoàn về tới Phú Yên. Sau khi được sắp xếp ở Tỉnh uỷ, đến giữa năm 1964 đoàn cũng được triển khai xuống Bến Vũng Rô.

Đến Bến Vũng Rô, bộ phận thông tin liên lạc gồm 4 nhân viên báo vụ (lúc này Bộ Tư lệnh Quân khu vừa điều động thêm đồng chí Lê Quang Ứng) về làm Đài trưởng Đài 15W , đồng chí Nguyễn Y (Đài phó), đồng chí Đoàn Văn Xuân và đồng chí Nguyễn Tấn (Năm 1965 còn bổ sung thêm 2 đồng chí quay Ga-gu-nô) cùng 2 nhân viên cơ yếu là Trần Sâm và Huỳnh Văn Nộ được bố trí tại Hang Vàng- Hốc Ráy (phía trên Bãi Gốc của Vũng Rô), gần Ban chỉ đạo tiếp nhận hàng vào Vũng Rô để tiện chỉ đạo liên lạc. Để bảo vệ Ban chỉ huy bến bãi cũng như bộ phận thông tin liên lạc, Phân khu Nam đã điều về 1 trung đội của K60 với quân số, vũ khí đầy đủ, cùng với Trung đội tập trung của huyện tổ chức ngăn chặn địch từ xa.

Để chuẩn bị cho các phiên liên lạc, khi phát các bức điện thì đã có người quay Ga-gu-nô, nhưng khi nhận đòi hỏi phải có nguồn Pin lớn (mỗi lần sử dụng cần khoảng vài chục viên) để duy trì máy hoạt động suốt 24 giờ/ngày. Các đồng chí trong bộ phận trực Đài 15W như Đoàn Văn Xuân, Nguyễn Tấn phải đến các vùng Phú Lạc, Đa Ngư (Hoà Hiệp) nhờ dân đi chợ mua Pin để cung cấp thường xuyên.

Phiên liên lạc đầu tiên tại Bến Vũng Rô là vào thời điểm cuối tháng 5-1964, khi Ban chỉ đạo tiếp nhận hàng vào Vũng Rô vừa được ổn định tại Bến. Có 3 mạng liên lạc chính từ Bến: với Bộ Tổng tham mưu do Thượng tá Phan Hàm (Cục phó Cục Tác chiến) ký điện, với Bộ tư lệnh Quân khu V (Mật danh Cậu Vũ) và với Tỉnh uỷ Phú Yên. Để giữ bí mật tuyệt đối cho hành trình của tàu, việc liên lạc với tàu phải qua trung gian là (Cậu Vũ), không liên lạc trực tiếp với Tàu. 

Về đầu trang

Việc liên lạc từ Bến Vũng Rô bắt đầu thường xuyên vào trung tuần tháng 11/1964, 2 ngày trước khi chuyến tàu không số đầu tiên xuất bến để vào Phú Yên. Đó là ngày 14 tháng 11 năm 1964, tổ điện đài nhận được bức điện từ Bộ Tổng tham mưu cho biết ngày giờ tàu xuất bến, chủng loại hàng, và yêu cầu kiểm tra bến bãi. Khi tàu xuất bến, trung bình khoảng 20 phút thì bộ phận thông tin liên lạc tại bến Vũng Rô thực hiện một phiên liên lạc với Bộ Tổng tham mưu và Bộ Tư lệnh Quân khu V. Nội dung các bức điện nhận là thông báo vị trí, tình hình của tàu Không số, yêu cầu kiểm tra bến bãi. Còn nội dung của các bức điện gởi đi là thông báo về tình hình bến bãi, thời tiết, an ninh khu vực Bến…để Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo kịp thời cho tàu không số. Mỗi khi phát đi một bức điện, phải cần đến 2 người quay Ga-gu-nô (Sau chuyến tàu thứ 3 vào Bến Vũng Rô, bộ phận thông tin liên lạc được bổ sung một Đài 15W của Trung Quốc nhẹ hơn, quay Ga-gu-nô chỉ cần 1 người). Trung bình một phiên liên lạc kéo dài khoảng 10 phút (Trừ những lúc tình hình bến bãi không an toàn, cần xin chỉ đạo cấp trên, như khi chuyến tàu không số thứ 4 vào Bến Vũng Rô bị địch phát hiện mới có những phiên liên lạc dài hơn 30 phút). Để bảo đảm bí mật tuyệt đối cho những bức điện, các nhân viên cơ yếu phải thường xuyên thay đổi hàng trăm loại luật mã, khoá mã (do bí mật quân sự không tiện nêu ra), thời gian của các phiên liên lạc thường là như nhau. Đôi khi nội dung liên lạc rất ngắn, Báo vụ viên vẫn kéo dài bức điện bằng những mã số vô nghĩa và báo cho nơi nhận biết nhằm nguỵ trang, không để địch phát hiện. Quy ước liên lạc qua mỗi chuyến tàu cũng được thay đổi và thống nhất từ Bộ tổng tham mưu đến Bộ tư lệnh Quân khu, Tàu không số và Bến Vũng Rô. Bên cạnh bảng quy ước chung, lúc cần thiết, sau khi thông tin cho biết, nơi nhận cũng như nơi gởi các bức mật điện đều thay đổi mã. Nhờ đó mà việc liên lạc giữa Bến Vũng Rô với Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh Quân khu V được an toàn tuyệt đối về mặt thông tin, kể cả khi chuyến tàu thứ 4 bị lộ trước khi vào Bến Vũng Rô. Kẻ thù của chúng ta đã tập trung mọi khả năng về con người và trang bị kỹ thuật nghiệp vụ để thực hiện thủ đoạn thu tin mã thám nhưng đều thất bại. Chính chúng cũng phải khâm phục: “Mật mã của Việt cộng đạt tới mức tinh vi, đều dùng phương pháp mã kép với khoá vô tận…Dù chỉ dịch mã bằng tay, Cơ yếu cộng sản cũng đã cố gắng tiến đến một trình độ bảo mật khá cao bằng các phương pháp khá phức tạp” (Báo cáo của trung tâm thẩm vấn hỗn hợp thuộc Quân lực Việt Nam cộng hoà gửi BTTM nguỵ tháng 8/1972). 

Về đảm bảo thông tin liên lạc trên các tàu Không số còn được chuẩn bị kỹ lưỡng hơn. Để chuẩn bị cho việc liên lạc trên các tàu không số, từ cuối năm 1963, Lữ đoàn hải quân 125 đã cắt cử những cơ công như Nguyễn Văn Năm, Nguyễn Văn Nghiệp, Đỗ Văn Sinh học thêm về Báo vụ để khi lên tàu vừa làm Báo vụ, vừa có thể sửa chữa điện đài trong trường hợp máy móc bị hỏng. Tàu không có nhân viên cơ yếu, việc dịch các bức điện do Thuyền trưởng và Chính trị viên phụ trách. Trước khi mỗi chuyến tàu xuất bến, Bộ Tổng tham mưu và bộ phận thông tin trên tàu đều thống nhất một quy ước riêng về tần số liên lạc, mật danh, thời gian liên lạc và ám hiệu khi vào bến, vì mỗi chuyến tàu đều thay đổi cách liên lạc nhằm bảo đảm bí mật tuyệt đối cho tàu. Trên tàu được trang bị một máy phát, nhận tín hiệu 50W (trên mặt biển, bán kính thu nhận sóng hẹp hơn đất liền, đòi hỏi máy phải có công suất lớn). Tuy nhiên, việc liên lạc chủ yếu là nhận những bức điện chỉ đạo từ Bộ Tổng tham mưu. Khi tàu rời bến, để tránh bị địch phát hiện, việc phát đi những bức điện trên tàu cần phải hạn chế tối đa. Trừ trường hợp đột xuất phát hiện có tàu địch trên biển mới báo cáo về Bộ tổng Tham mưu, còn các phiên liên lạc khác chỉ thực hiện khi tàu đã đến những nơi cần liên lạc theo quy ước trước khi xuất bến, hoặc khi từ hải phận Quốc tế bắt đầu vào vùng biển Việt Nam. Khi vào cách bến chừng 20 hải lý thì mọi sự liên lạc bằng tín hiệu đều dừng để bảo đảm tàu vào được an toàn. Việc liên lạc bằng tín hiệu của tàu chủ yếu với Bộ Tổng tham mưu mà rất hạn chế liên lạc trực tiếp với Bến để tránh bị địch phát hiện. Khi cần thông tin điều gì về Bến đều phải liên lạc với Bộ Tổng tham mưu. Nội dung các bức điện mà tàu gởi đi chủ yếu là thông bào về tình hình của vùng biển, tình hình của tàu và xin ý kiến chỉ đạo. Còn nội dung các bức điện mà tàu nhận từ Bộ tổng tham mưu là tình hình của bến, an ninh của vùng biển mà tàu sắp đến và các ý kiến chỉ đạo để xử lý.

Việc liên lạc bằng sóng vô tuyến điện chỉ được thực hiện trong hành trình của tàu. Khi tàu đã vào cách bến chừng 20 hải lý thì mọi sự liên lạc bằng tín hiệu đều dừng để bảo đảm tàu vào được an toàn. Lúc này tàu liên lạc với bến bằng ám hiệu đã được quy ước trước.

Trên mỗi chuyến tàu đều có những thuỷ thủ người Phú Yên, trước đây, khi ở quê nhà, từng đi đánh bắt xa bờ, biết rõ luồng lạch, địa hình trên biển để có thể hướng dẫn tàu vào bến được dễ dàng. Khi tàu từ biển vào Bến Vũng Rô thì tắt đèn, tắt máy, chỉ thả trôi để tránh bị địch phát hiện. Để đón tàu không số vào Bến Vũng Rô, đồng chí Trần Suyền đã phân công cho đồng chí Nguyễn Ngọc Thọ (Xã đội trưởng) tổ chức một tổ dùng thuyền nhỏ để đón tàu khi tàu vào bến. Ám hiệu để đón tàu cũng được quy định cụ thể. Khi vào bến, tàu sẽ ra ám hiệu trước bằng cách bấm đèn pin hướng xuống nước, sau khi nhận đúng ám hiệu quy ước, thuyền ra đón trả lời ám hiệu cũng bằng cách bấm đèn pin hướng xuống nước (Phải hướng xuống nước để tránh địch từ bót Pơ-tí phát hiện). Ám hiệu để đón tàu được thay đổi tuỳ từng chuyến tàu và đồng chí Nguyễn Ngọc Thọ chỉ nhận cách ám hiệu để đón tàu từ đồng chí Trần Suyền- phụ trách Ban chỉ đạo tiếp nhận hàng vào Vũng Rô.

Đêm 28-11-1964, chuyến Tàu Không số đầu tiên do đồng chí Hồ Đắc Thạnh làm thuyền trưởng vào bến Vũng Rô. Mặc dù qua Bộ Tổng tham mưu, Ban chỉ đạo tiếp nhận hàng vào Vũng Rô và Tàu Không số đã có liên lạc chặt chẽ về ám hiệu để đưa tàu vào, nhưng vì là chuyến đầu tiên và vào trong đêm nên đã gặp những bất trắc trong việc tiếp đón tàu. Tàu vào trong đêm tối mịt mùng, lại tắt đèn nên ngay cả những thuỷ thủ trên tàu biết rõ địa hình ở Vũng Rô vẫn khó nhận ra các mũi, các đảo ở đây. Chỉ đến khi tàu gần đến Mũi Khay, thuyền trưởng và các thủy thủ trên tàu mới chắc là đã vào Bến Vũng Rô. Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh cho bật đèn pin hướng xuống nước làm ám hiệu để liên lạc với Bến , thế nhưng không bắt được liên lạc từ Bến. Tổ đón tiếp tàu do đồng chí Nguyễn Ngọc Thọ phụ trách chưa quen nên đã không nhận được ám hiệu từ tàu. Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh cho thả xuồng “ba lá” mang theo tàu và cử người vào trong liên lạc với Bến. Khi tàu bắt được liên lạc với Bến, cả hai bên mừng rỡ đến trào nước mắt. Tàu được đưa vào Bãi Chính, việc bốc dỡ hàng nhanh chóng được triển khai. Tuy nhiên, một trở ngại lớn đã diễn ra: Hàng vào quá lớn, không thể bốc dỡ xong trong đêm. Một bức điện khẩn được gởi đi từ Tàu Không số để xin ý kiến của Bộ Tổng tham mưu. Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo: Thống nhất cho tàu ở lại để đêm sau tiếp tục bốc dỡ hàng nhưng yêu cầu tàu phải được nguỵ trang kỹ, tránh bị địch phát hiện. Đến rạng sáng ngày 29-11-1964, sau khi đã bốc dỡ được một phần hàng, Thuyền trưởng lệnh đưa tàu đi trú ở một mõm đá gần đó. Việc nguỵ trang được tiến hành từ mái núi liền với tàu, nên bảo đảm an toàn, địch không thể phát hiện. Đợi đến tối, việc bốc dỡ hàng còn lại trên tàu tiếp tục được diễn ra. Đến khoảng 1 giờ sáng việc bốc dỡ hàng hoàn tất, tàu an toàn nhổ neo chạy ra hải phận quốc tế.

Trong hành trình của chuyến tàu đầu tiên vào Vũng Rô, chỉ huy Tàu 41 đã trao đổi với đồng chí Trần Ngọc Quang (người đi theo tàu về Nam, để tăng cường cho bến): Bến cần làm ngay trước mắt 2 việc, làm cầu tàu và đặt đèn báo hiệu cho tàu vào dễ dàng. Yêu cầu đó được Ban chỉ đạo bến Vũng Rô quan tâm và triển khai thực hiện.

Mũi Nạy nằm trên triền núi Bà thuộc dãy Đại Lãnh, là điểm cực Đông của Tổ quốc. Năm 1890, người Pháp xây dựng một hải đăng trên đỉnh Mũi Nạy ở độ cao 86m, giúp tàu bè thông thương thuận lợi trên biển và vào cảng Vũng Rô. Khi hải đăng đi vào hoạt động, Mũi Nạy có tên Mũi Điện. Năm 1945, hải đăng tạm ngưng hoạt động; năm 1961, chính quyền Sài Gòn khôi phục lại nhưng phải tạm dừng, do gần căn cứ cách mạng, thường xuyên bị ném bom. Lãnh đạo bến quyết định bí mật tận dụng tháp Hải Đăng để thắp đèn măng-sông báo hiệu cho các “tàu không số” vào Vũng Rô. Ở vùng giải phóng Phú Lạc (Hoà Hiệp) chỉ có 2 người có đèn măng-sông là đồng chí Huỳnh Ngay và đồng chí Lê Lướt. Cả 2 đồng chí đều được điều động vào tổ công binh 6 người cùng với 2 cây đèn măng-sông để làm nhiệm vụ cảnh giới trên đỉnh Mũi Điện và thắp đèn măng-sông báo hiệu khi có “tàu không số” vào Bến. Hàng ngày 2 đồng chí Huỳnh Ngay, Lê Lướt có nhiệm vụ luân phiên leo lên tháp Hải Đăng để quan sát vùng biển xung quanh Vũng Rô, kiểm tra tàu địch qua lại Vũng Rô, báo lại cho Ban chỉ đạo Bến Vũng Rô. Chiều 25-12-1964, nhận được lệnh từ đồng chí Trần Suyền cho biết: 9 giờ đêm nay, tàu Không số chuyến thứ 2 sẽ vào bến Vũng Rô. Khoảng 20 giờ, 2 đồng chí Huỳnh Ngay và Lê Lướt đã luân phiên nhau leo lên tháp Hải Đăng để thắp đèn măng-sông báo hiệu cho tàu Không số vào Bến. Để tránh bị địch từ bót Pơ-tí phát hiện, cứ năm, ba phút thắp đèn lên thì lại năm, ba phút kéo đèn xuống. Còn khi thắp đèn, thì 2 đồng chí phải thắp đèn trước ngực và che lưng về phía bót Pơ-tí để địch từ bót Pơ-tí nhìn ra không thấy. Chỉ đến khi tổ trưởng tổ công binh báo cho biết: Tàu Không số đã vào Bãi Chính an toàn thì việc báo hiệu bằng đèn măng-sông trên tháp Hải Đăng của 2 đồng chí Huỳnh Ngay và Lê Lướt mới được kết thúc. (Nguồn tư liệu do bác Huỳnh Ngay 86 tuổi cung cấp)

Việc đưa thuyền nhỏ ra đón Tàu Không số cũng được chủ động hơn từ chuyến thứ 2. Các tổ không đón tàu tại Bến mà ra tận Mũi Khay để nhận ám hiệu và đón tàu vào Bãi Chính. 
Nhờ tăng cường việc báo hiệu và ám hiệu liên lạc để đưa Tàu Không số vào Bến Vũng Rô mà các chuyến Tàu không số thứ 2 (vào bến rạng sáng ngày 25-12-1964), chuyến thứ 3 (vào bến tối ngày 31-1-1965) và ngay cả chuyến thứ 4 không có kế hoạch vào Bến Vũng Rô, nhưng gặp bất trắc, bị lộ đã xin cập Bến Vũng Rô vào tối 15-2-1965 đều được Bến hướng dẫn, đón tiếp chặt chẽ và tàu cập bến dễ dàng.

Ba chuyến tàu với trên 200 tấn hàng được cập Bến Vũng Rô, được vận chuyển trót lọt đến đến các kho, được phân phát cho các chiến trường Đắc Lắc, Phú Yên, Khánh Hoà và cấp phát bổ sung cho lực lượng bộ đội chiến đấu. Riêng ở huyện Tuy Hoà đã tập hợp được hơn 1.500 dân và cấp súng cho du kích các xã chiến đấu. Đó là một mơ ước lớn của lực lượng vũ trang Phú Yên. Trong bài nói về sự kiện Vũng Rô, về chuyến Tàu Không số thứ 4 bị lộ, vào tháng 2-1965, Đại tá Bộ tư lệnh Hải quân Mỹ Rsohresdley đã phải thú nhận rằng: “Nhiều loại vũ khí có số lượng nhiều hơn đã được chở bằng tàu thuỷ vào trước đó”. 

Trong mỗi chiến dịch, mỗi cuộc hành quân thì yếu tố bí mật thông tin liên lạc được xem là một trong những yếu tố quyết định cho sự thành công. Việc đảm bảo thông tin liên lạc giữa Bến Vũng Rô, Tàu Không số và Bộ Tư lệnh Quân khu V, Bộ Tổng tham mưu đã góp phần rất lớn trong sự thành công của việc tiếp nhận những chuyến Tàu Không số vào Bến Vũng Rô, chi viện cho ba tỉnh Đắc Lắc, Phú Yên và Khánh Hoà./. 

Thiết kế trang web: Trung tâm CNTT Phú Yên - Email: pyitc@dng.vnn.vn

Về đầu trang